11 bài viết
Bạn đang xem trang 1 / 1 trang
Đã xem Bởi Devoted_HM
Đêm 14/4/1912, tàu Titanic — được quảng bá là "không thể chìm" — đâm phải băng trôi trên đường từ Anh sang Mỹ và chìm chỉ sau vài giờ, khiến hơn 1500 người thiệt mạng.
Câu chuyện của vợ chồng tỷ phú Straus và ngài tỷ phú Benjamin Guggenheim dưới đây, sẽ khiến ai cũng phải khâm phục.

1. Vợ chồng tỷ phú Isidor Straus - chủ của chuỗi trung tâm mua sắm Macy's lớn nhất nước Mỹ và là vợ chồng giàu nhất xứ Mỹ thời đó.

Khi tàu Titanic chìm, ông từ chối lên xuồng trước những người khác; bà vợ cũng ở lại trên tàu Titanic cùng chồng. Hai ông bà nhường vị trí trên xuồng cứu hộ cho người hầu của họ. Hai người ở lại bên nhau và cùng thiệt mạng.

2. Benjamin Guggenheim - sở hữu đế chế khai khoáng và luyện kim. Khi tàu Titanic chìm, ông nhường xuồng cứu hộ của mình cho phụ nữ, trẻ em rồi ở lại tàu Titanic. Sau đó ông về phòng thay lễ phục, và chào tạm biệt mọi người: "Chúng tôi đã ăn mặc chỉnh tề và sẵn sàng chết như những quý ông."

Lời bình: Cả ba vị đều thuộc tầng lớp thượng lưu, có công lớn thúc đẩy nền kinh tế phát triển, lo cho lợi ích dân sinh, nuôi sống hàng chục ngàn gia đình. Với địa vị quan trọng như vậy, họ hoàn toàn có thể tìm cách lên xuồng cứu hộ nhưng họ đã chọn ở lại để nhường cơ hội được sống sót cho người khác.
Đây đúng là các bậc Bồ tát thật sự!
Đã xem Bởi Devoted_HM
Con kính đảnh lễ Tổ, Thầy,

Con xin đóng góp câu chuyện về một vị Bồ tát sống: Irena Sendler - nữ y tá Ba Lan đã cứu sống 2500 đứa trẻ Do Thái khỏi vòng vây của Phát xít Đức trong Đệ nhị Thế chiến.
Irena Sendler thời còn trẻ.jpg
Năm 1942, chứng kiến hàng vạn gia đình Do Thái bị phát xít Đức diệt chủng, bất chấp bản thân là một phụ nữ Công giáo, bà Irena đã bí mật lẩn trốn vào khu cấm nhờ chiếc thẻ nhân viên y tế. Bà thuyết phục những người mẹ giao con cho mình để tìm một cơ hội sống. Trẻ sơ sinh được giấu dưới sàn xe cứu thương, trong thùng dụng cụ y tế. Trẻ lớn hơn được giấu trong bao tải khoai tây hay quan tài giả... 2500 đứa trẻ đã được cứu sống ngay trước mũi tử thần bằng những cách không tưởng như thế.

Sau đó, tụi trẻ con được bà làm giấy tờ giả, với lai lịch mới là những đứa trẻ Kitô giáo và đưa tới những gia đình Ba Lan, các cô nhi viện hay tu viện. Cứu được một đứa trẻ, bà Irena lại cẩn thận ghi lại tên thật, tên cha mẹ ruột bằng tiếng Do Thái cùng danh tính giả mới của các em vào một mảnh giấy nhỏ. Bà cuộn chặt, nhét vào các lọ thủy tinh và đem chôn dưới gốc cây táo trong vườn nhà. Bà muốn giữ lại cội nguồn cho các em, để sau chiến tranh, các em có thể tìm lại gia đình.

Tháng 10/1943, bà bị lính Đức bắt giữ và bị sử dụng nhục hình tàn bạo nhất: bẻ gãy cả hai chân và bàn chân của bà hòng bắt bà khai ra nơi giấu danh sách. Nhưng bà Irena tuyệt đối không hé môi nửa lời. Bà được đồng đội giải cứu ngay trước giờ hành quyết, nhưng vết thương tàn phế ở chân đã theo bà suốt phần đời còn lại trên chiếc xe lăn.

Sau chiến tranh, câu chuyện của bà bị lãng quên suốt hơn 50 năm do biến động chính trị. Mãi đến năm 1999, khi một nhóm học sinh ở trường Kansas (Mỹ) tình cờ phát hiện ra câu chuyện này và viết thành một vở kịch mang tên "Cuộc sống trong cái lọ", câu chuyện của bà Irene Sendler mới được biết đến. Khi được cả thế giới ca tụng và đề cử giải Nobel Hòa bình, bà chỉ nhẹ nhàng nói: "Tôi vẫn có thể làm được nhiều hơn thế. Lẽ ra tôi đã có thể cứu được nhiều đứa trẻ hơn nếu tôi không bị tụi Đức bắt."
Irena Sendler lúc già.jpg
Vào ngày 12/5/2008, Irena Sendler đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 98 tại Ba Lan. Người Mỹ đã vinh danh bà bằng bộ phim "The Courageous Heart of Irena Sendler" (Trái tim dũng cảm của Irena Sendler), nhưng tiếc thay bà đã không kịp xem.
Bạn không có quyền cần thiết để xem các tệp đính kèm với bài đăng này.
Đã xem Bởi Devoted_HM
Con kính đảnh lễ Tổ, Thầy,

Con xin đóng góp câu chuyện về một vị Bồ tát tại thế khác:
Chuck Feeney.jpg
Đây là ông lão mới thoạt nhìn trông nghèo khó lại có vẻ keo kiệt. Nhưng việc ông làm lại khiến ông trở thành tấm gương cho Bill Gates và Warren Buffett. Cả hai người này đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ ông. Hai vợ chồng ông ở trong căn hộ đi thuê ở thành phố San Francisco, Mỹ. Ông chưa từng mặc quần áo hàng hiệu, mắt kiếng rất cũ kỹ, đồng hồ đeo tay cũng lỗi thời. Ông không thích món ăn ngon, thích nhất là sữa hâm nóng và bánh sandwich cà chua. Ông không có xe hơi riêng, ra ngoài thường đi bằng xe buýt, túi xách mà ông dùng để đi làm là túi vải. Nếu đến một quán uống bia, ông cẩn thận đối chiếu cái hóa đơn tính tiền. Nếu bạn là khách ở nhà ông, trước khi ngủ ông ấy sẽ nhắc bạn nhớ tắt đèn để tiết kiệm điện.

Một ông già cẩn thận từng xu như thế, nhưng ông chính là người tặng cho đại học Cornell 950 triệu đô la, cho đại học California 125 triệu đô la, cho đại học Stanford 60 triệu đô la. Ông đã dành một tỷ đô la tài trợ cho chương trình cải tạo và xây mới các trường đại học ở Ireland, nơi tổ tiên ông đã từ đó ra đi để tới Mỹ tìm miền đất hứa. Ông thành lập quỹ từ thiện để phẫu thuật sứt môi cho trẻ em ở các nước đang phát triển. Việt Nam cũng được ông tài trợ cho 350 triệu đô la Mỹ để làm các dự án nâng cao chất lượng đời sống người dân. Cho tới năm 2016, ông đã đóng góp tổng cộng 8 tỷ đô la Mỹ cho các hoạt động thiện nguyện trên toàn thế giới.

Ông là doanh nhân sáng lập ra tập đoàn kinh doanh hàng miễn thuế toàn cầu DFS. Keo kiệt với chính mình, hào phóng với mọi người, thích kiếm tiền lại không thích chi tiêu cho bản thân – ông là Chuck Feeney.

Ông đã nêu tấm gương cho những người giàu có: "Trong khi hưởng thụ phải chia sẻ giúp đỡ mọi người". Ông kín tiếng về việc trong nửa thế kỷ qua, ông đã đóng góp vào các quỹ từ thiện đến 99% gia sản của mình. Ông không tiếp xúc với truyền thông để lăng xê mình hoặc sự nghiệp của ông. Chỉ tới khi gần qua đời ở tuổi 92, và việc thiện của Chuck Feeney bị tiết lộ, rất nhiều phóng viên muốn tiếp xúc với ông, ai cũng muốn hỏi: Vì sao Chuck Feeney lại có thể dửng dưng với gia tài hàng tỷ đô la như thế?

Ông chỉ mỉm cười kể câu chuyện: "Một con sóc thấy mấy hạt bồ đào trong vườn, muốn vào trong ăn một chầu, nhưng giờ nó mập quá, không chui vào được. Thế là ba ngày ba đêm nó không ăn không uống để gầy đi, cuối cùng cũng chui vào được! Ăn no nê, cảm thấy thỏa mãn, nhưng khi nó muốn đi, lại không chui ra được. Bất đắc dĩ đành phải giở trò cũ, lại ba ngày ba đêm không ăn uống. Kết quả, lúc nó chui được ra, bụng vẫn thót lại như lúc chưa chui vào."

Ông nói: "Ai cũng đều trần trụi khi chào đời và cũng trần trụi khi ra đi, không ai mang theo tài sản để đi về thế giới bên kia cả."
Bạn không có quyền cần thiết để xem các tệp đính kèm với bài đăng này.
Đã xem Bởi Devoted_HM
Con kính đảnh lễ Tổ, Thầy.

Con xin bổ sung một số hình ảnh và chi tiết rất cảm động về hai trường hợp này.
anh1.jpeg
Vợ chồng Isidor và Ida Straus: Khi được mời lên xuồng cứu hộ, ông Isidor từ chối và nói: "Tôi sẽ không lên xuồng trước những người đàn ông khác." Đến lượt bà Ida, bà cũng từ chối rời chồng, nắm tay ông và nói: "Chúng ta đã sống cùng nhau nhiều năm rồi. Anh đi đâu, em đi đó." (Where you go, I go.) Trước khi ở lại, bà còn cởi chiếc áo khoác lông chồn đang mặc đưa cho người hầu gái Ellen Bird và nói đại ý: "Tôi không cần dùng nó nữa. Hãy mang nó theo lên xuồng cứu sinh để giữ ấm, cho đến khi cô được giải cứu nhé". Sau này, Ellen Bird tìm cách trả lại chiếc áo nhưng gia đình Straus đã từ chối nhận.
anh2.jpeg
Benjamin Guggenheim: Khi biết con tàu không còn hy vọng cứu vãn, ông quay sang người hầu Victor Giglio và bình thản nói: "Chúng ta hãy trở về phòng và mặc quần áo tử tế." Hai người cởi bỏ áo phao, thay bộ lễ phục chỉnh tề rồi bước lên boong tàu. Theo một số lời kể của nhân chứng, trong những phút cuối, ông còn chia rượu brandy và xì gà cho những người còn ở trên boong để động viên họ giữ vững tinh thần. Trước khi tàu chìm, ông nhắn gửi vợ: "Hãy nói với vợ tôi rằng tôi đã làm tròn bổn phận đến phút cuối. Không một người phụ nữ nào bị bỏ lại vì sự hèn nhát của tôi."
Bạn không có quyền cần thiết để xem các tệp đính kèm với bài đăng này.
Đã xem Bởi Devoted_HM
Bà Oseola McCarty sanh năm 1908 ở tiểu bang Mississippi là một người phụ nữ da đen nhỏ bé, lớn tuổi, đi đôi giày cũ và mặc chiếc váy cũ, ở trong một túp lều dựng bằng cây. Bà phải nghỉ học từ năm 11 tuổi, để vừa đi làm kiếm tiền vừa nuôi người dì bị bịnh nặng.

Trong 75 năm tiếp theo, bà chỉ làm một việc: giặt quần áo mướn cho người khác. Không phải ở tiệm giặt là. Mà là ở sân sau nhà, cúi người trên tấm ván giặt, nhúng tay trần vào nước sôi. Áo sơ mi. Váy. Ga trải giường. Bà tính tiền vài xu mỗi món. Bà làm quần quật từ lúc mặt trời mọc cho tới tối khuya, và chưa hề nghỉ một ngày nào.

Cả cuộc đời bà chỉ đi bộ và hiếm khi đi xe buýt vì bà muốn tiết kiệm tiền. Bà không có xe hơi. Không có tivi. Không có đi du lịch. Bà chưa bao giờ đi máy bay hay ngủ ở khách sạn. Bà sống một cuộc sống giản dị đến kinh ngạc, bỏ từng đồng xu tiết kiệm vào các tài khoản tiết kiệm rải rác ở các ngân hàng địa phương. "Tôi không xài tiền," bà nói một cách thẳng thắn. "Tôi tiết kiệm."

Năm 1995, ở tuổi 87, bàn tay của Bà Oseola bị biến dạng do viêm khớp. Hàng chục năm giặt giũ trong nước nóng đã phá hủy các khớp xương của bà. Bà không thể làm việc được nữa. Thời gian của bà không còn nhiều.

Bà bước vào ngân hàng và nhờ nhân viên ngân hàng tổng kết các tài khoản của bà, con số khiến cả hai người đều kinh ngạc: 280 ngàn đô la Mỹ (tương đương với 730 lượng vàng). Với số tiền khổng lồ đó, Bà Oseola có thể đã mua được ngôi nhà mơ ước của mình. Bà ấy lẽ ra có thể đi du lịch khắp thế giới. Bà ấy lẽ ra có thể sống những năm cuối đời trong sự thoải mái mà bà chưa từng được biết đến.

Thay vào đó, Bà dành một phần để sửa sang nhà thờ trong làng của mình. Bà chỉ giữ lại vài ngàn đô đủ để trang trải các hóa đơn thực phẩm hàng ngày. Sau đó, bà quyên góp hết số tiền cho Đại học Southern Mississippi—một trường đại học thậm chí còn không cho phép sinh viên da đen nhập học cho đến những năm 1960—để tạo ra học bổng cho sinh viên da đen không đủ khả năng chi trả học phí đại học.

Khi các phóng viên hỏi lý do, bà trả lời với sự giản dị đầy xúc động: "Tôi muốn các con có được nền giáo dục mà tôi không có. Tôi muốn chúng có cơ hội."


Người phụ nữ nhỏ bé này, người đã sống trong sự vô danh gần chín mươi năm, bỗng trở thành biểu tượng quốc gia chỉ sau một đêm. Tổng thống Clinton đã mời bà đến Nhà Trắng và trao tặng bà Huân chương Công dân Tổng thống. Bà đã cầm ngọn đuốc Olympic. Đại học Harvard đã trao cho bà bằng tiến sĩ danh dự. Người phụ nữ bỏ học từ lớp sáu đã trở thành Tiến sĩ Oseola McCarty.

Oseola McCarty qua đời vào ngày 26 tháng 9 năm 1999, ở tuổi chín mươi mốt.

Quỹ học bổng của bà đã tăng lên hơn 1 triệu đô la. Mỗi năm, những người trẻ tuổi—nhiều người trong số họ là sinh viên da đen từ các
gia đình nghèo ở Mississippi—bước lên bục nhận bằng tốt nghiệp với mũ và áo choàng. Họ cầm bằng cấp. Họ bước vào tương lai được tạo nên nhờ một người phụ nữ đã dành bảy mươi lăm năm cúi mình bên nồi nước sôi, tiết kiệm từng đồng xu, mơ ước về một cơ hội mà bà sẽ không bao giờ có được nhưng người khác sẽ có.

Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã quyên góp thêm tiền. Những người lạ từ khắp nước Mỹ đã gửi tiền quyên góp. Sự hy sinh của một người phụ nữ làm nghề giặt giũ đã khơi nguồn cho một phong trào hào phóng vẫn tiếp diễn hai mươi sáu năm sau khi bà qua đời.

Người phụ nữ giặt giũ đến từ Mississippi đã dạy cho người ta bài học quan trọng rằng sự hy sinh thầm lặng, không cần được chú ý và cũng không cần được đền đáp, có thể thay đổi cuộc sống của hàng ngàn người. Đây mới là hành động của các bậc Bồ Tát tại thế - làm lợi ích cho đời trong sự hy sinh thầm lặng. Khi người đời biết tới các hành động cao cả của họ, thì cũng là lúc các vị đã rời khỏi thế gian.
Đã xem Bởi Devoted_HM
Nhiều năm liền, một cặp vợ chồng già ở Thượng Hải mỗi ngày chỉ xài 17 nhân dân tệ (tương đương 65000 việt nam đồng) để mua một phần cơm bình dân. Một phần cơm cho 2 người ăn trong 2 buổi trưa lẫn tối. Đó là cách họ sống trong những năm tháng ở Thượng Hải: không có con cái, dùng cùng một cặp kính được sửa chữa suốt nhiều năm, và những món đồ nội thất cũ tới mức không ai muốn xài.
Hàng xóm cứ nghĩ ông bà nghèo. Nhưng ông Đỗ Anh Dũng từng là giáo viên, vợ ông, bà Lục Tố Anh, từng là bác sĩ.

Năm 2018, ông Dũng nhìn thấy một tấm biển bên ngoài bịnh viện kêu gọi giúp đỡ trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh. Ông không hề do dự. Trước tiên, họ quyên góp 500.000 nhân dân tệ (2 tỷ Việt Nam đồng) cho 10 em nhỏ, rồi quyên góp thêm 4,5 triệu nhân dân tệ (18 tỷ đồng).

Khi một nhân viên bịnh viện nhìn thấy căn nhà tồi tàn của họ, cô khuyên ông bà nên giữ lại một phần số tiền cho bản thân. Ông bà trả lời rằng họ không còn nhiều thời gian, và tiền lương hưu của họ đủ để trang trải cuộc sống.

Ông qua đời ở tuổi 81 còn bà qua đời vào năm 2025, ở tuổi 92. Cùng nhau, họ để lại 1 triệu đô la mỹ và số tiền này hiện đang tài trợ cho việc điều trị của 455 em nhỏ sẽ không bao giờ biết tên họ.
Đã xem Bởi Devoted_HM
Con kính đảnh lễ Tổ, Thầy.

Con xin gửi thêm hai câu chuyện về tấm lòng cao thượng.

1. Vợ chồng Mã Húc và Nhan Học Dung

Nhiều năm liền, vợ chồng bà Mã Húc và ông Nhan Học Dung sống một cuộc đời giản dị đến mức khó tin. Bà Mã từng là nữ quân nhân nhảy dù đầu tiên của Trung Quốc, nhưng khi về già, hai ông bà vẫn giữ thói quen tiết kiệm đến từng đồng: hàng chục năm không mua quần áo mới, đôi giày chỉ trị giá khoảng 15 nhân dân tệ (khoảng 50–60 nghìn VNĐ), đồ đạc trong nhà cũ kỹ đến mức chẳng ai nghĩ họ có của cải gì đáng kể.

Năm 2018, hai ông bà quyết định quyên góp toàn bộ 10 triệu nhân dân tệ (khoảng 34-36 tỷ đồng Việt Nam) cho các hoạt động giáo dục và văn hóa tại quê hương Mộc Lan, tỉnh Hắc Long Giang. Khi họ đến ngân hàng để chuyển tiền, số tiền quá lớn khiến nhân viên nghi ngờ ông bà bị lừa đảo nên đã báo cảnh sát để xác minh.

Sau khi biết được sự thật, nhiều người không khỏi xúc động. Hai ông bà không có cuộc sống giàu sang, cũng không để lại tài sản cho riêng mình. Khi được hỏi tại sao, bà chỉ nói: "Chúng tôi không cần nhiều, để số tiền này giúp được nhiều em nhỏ có cơ hội đến trường."

2. Yu Pang-lin

Yu Pang-lin là một tỷ phú trong lĩnh vực khách sạn và bất động sản ở Trung Quốc. Thế nhưng ông sống rất giản dị. Dù sở hữu khối tài sản khổng lồ, ông không để lại tài sản cho con cháu, mà dành phần lớn gia sản cho các hoạt động từ thiện. Tổng giá trị tài sản ông quyên góp lên tới 9,3 tỷ nhân dân tệ (khoảng 2 tỷ USD), dùng cho y tế, giáo dục, cứu trợ thiên tai.

Ông cho rằng nếu để lại quá nhiều tiền cho con cái, chúng có thể trở nên ỷ lại và mất động lực tự mình phấn đấu. Còn nếu dùng số tiền ấy để giúp những người thực sự cần, giá trị của nó có thể được nhân lên cho rất nhiều người.
Đã xem Bởi Devoted_HM
Sophia Smith: Người phụ nữ dùng gia tài để mở cánh cửa giáo dục cho phụ nữ.

Sophia sinh năm 1796, ở Massachusett, Hoa Kỳ. Bà bị điếc và không được tới trường. Bà phải hoàn toàn tự học. Năm 1861, cha, các anh chị em đều đã qua đời nên bà được thừa hưởng gần bốn trăm ngàn đô la (tương đương 600 ký lô vàng - theo thời giá năm 2026 là 90 triệu đô la.)

Thời của Sophia, phụ nữ không được phép theo học đại học. Suốt 65 năm cuộc đời của mình, bà đã chứng kiến cảnh phụ nữ bị áp bức và coi khinh trong xã hội. Bà đã quyết định dùng toàn bộ số tiền thừa kế của mình để mở ra một trường đại học dành cho phụ nữ. Bà tin vào một nền giáo dục cao hơn và toàn diện hơn dành cho phụ nữ, bởi điều đó sẽ giúp họ cải thiện vị thế, có được mức lương công bằng hơn và gia tăng ảnh hưởng của họ trong việc cải cách những vấn đề của xã hội. Phụ nữ phải có cơ hội được học ngoại ngữ, toán học nâng cao, triết học và khoa học tự nhiên với mức độ nghiêm túc hoàn toàn ngang bằng nam giới tại Harvard.

Và đó là lý do Trường Smith (Smith College) chính thức mở cửa. Khóa học đầu tiên chỉ có 14 nữ sinh. Những người phản đối xuất hiện ở khắp nơi. Có người thực sự tin rằng bộ não phụ nữ quá yếu để tiếp nhận giáo dục bậc cao. Có người cho rằng việc học tập nghiêm túc sẽ hủy hoại sức khỏe của phụ nữ. Thậm chí còn có người lo sợ rằng một phụ nữ được học hành sẽ trở nên khó lấy chồng.

Nhưng 14 nữ sinh đầu tiên ấy đã từng bước phá tan những định kiến đó bằng chính thành tích học tập của mình. Đến những năm 1920, Smith College đã trở thành một trường danh giá tại Mỹ. Các nữ sinh tốt nghiệp từ đây bước vào những lĩnh vực mà xã hội từng dựng hàng rào ngăn cản phụ nữ, trở thành nhà văn, luật sư, nhà khoa học và nhà hoạt động xã hội.

Bà Sophia Smith đã để lại một cánh cửa giáo dục cho phụ nữ, mở ra kỷ nguyên mới về bình đẳng giữa nam - nữ ngày nay.
Đã xem Bởi Hạt Dẻ
Năm 1938–1939, Nicholas Winton đến Prague, chứng kiến hoàn cảnh nguy hiểm của những gia đình Do Thái trước sự đàn áp khốc liệt của Đức Quốc xã. Nhận thấy nhiều trẻ em đang có nguy cơ trở thành nạn nhân của chiến tranh, ông đã cùng những người cộng sự tổ chức các chuyến tàu đưa trẻ em từ Tiệp Khắc sang Anh, đồng thời tìm kiếm những gia đình Anh sẵn sàng tiếp nhận và chăm sóc các em. Nhờ những nỗ lực ấy, 669 trẻ em đã được đưa đến nơi an toàn.

Điều đáng chú ý là sau chiến tranh, Winton gần như không kể với bất kỳ ai về những gì mình đã làm. Ông trở về với cuộc sống bình thường, tiếp tục công việc và chăm sóc gia đình, không xem những việc mình đã làm là điều cần được ca ngợi. Có thời gian, ngay cả vợ và các con ông cũng không biết đầy đủ về hoạt động giải cứu mà ông từng tham gia.

Mãi đến năm 1988, câu chuyện ấy mới được hé lộ. Vợ ông, Grete Winton, tình cờ tìm thấy trên căn gác một tập hồ sơ lưu giữ từ thời chiến, trong đó có những bức ảnh, danh sách tên các trẻ em và thông tin về những gia đình đã tiếp nhận các em. Những tài liệu tưởng như đã bị lãng quên ấy đã mở ra câu chuyện về một trong những nỗ lực giải cứu trẻ em trước Thế chiến II.

Cũng trong năm 1988, Nicholas Winton được mời tham gia chương trình truyền hình BBC That's Life!. Ông nghĩ rằng mình chỉ tham gia một cuộc phỏng vấn thông thường và không biết rằng chương trình đã bí mật mời những người từng là những đứa trẻ được ông cứu hơn 40 năm trước.

Trong chương trình, người dẫn chương trình hỏi liệu trong khán phòng có ai từng được Nicholas Winton cứu sống hay không. Khi ấy, từng người một đứng lên. Winton ngồi giữa họ, bất ngờ nhận ra rằng những đứa trẻ năm nào mà ông từng giúp đưa đến Anh nay đã trưởng thành và đang hiện diện ngay trước mắt mình.

Sau này, khi được hỏi vì sao ông giữ kín việc mình đã làm trong suốt nhiều thập niên, Winton chỉ giải thích rất giản dị rằng ông không thực sự cố tình “giữ bí mật”; ông đơn giản là không nói về chuyện đó. Ông cũng không thích được gọi là một người hùng và nhiều lần cho rằng mình chỉ làm điều mà ông cảm thấy cần phải làm vào thời điểm ấy.

Câu chuyện về Nicholas Winton và 669 đứa trẻ sau đó tiếp tục được nhiều thế hệ biết đến và được chuyển thể thành bộ phim One Life (2023), qua đó tái hiện cuộc đời ông cũng như hành trình giải cứu những đứa trẻ trước thảm họa Holocaust.
Bạn không có quyền cần thiết để xem các tệp đính kèm với bài đăng này.
Đã xem Bởi Hạt Dẻ
Trong ngành y cũng có những tấm gương thầy thuốc hiến dâng cho sức khỏe con người mà không màng lợi ích hay danh vọng.

1. Jonas Salk (1914–1995), bác sĩ và nhà virus học người Mỹ, là người phát triển vaccine bại liệt bất hoạt (IPV). Sau khi vaccine được công bố an toàn và hiệu quả năm 1955, ông không đăng ký bằng sáng chế để vaccine có thể được phổ biến rộng rãi. Khi được hỏi vaccine thuộc về ai, ông đáp: "Bạn có thể cấp bằng sáng chế cho Mặt Trời không?"

2. Albert Sabin (1906–1993), bác sĩ và nhà virus học người Mỹ gốc Ba Lan, là người phát triển vaccine bại liệt đường uống (OPV). Ông từ chối đăng ký bằng sáng chế và từng nói: "Đó là món quà của tôi dành cho tất cả trẻ em trên thế giới."

3. Frederick Banting (1891–1941), bác sĩ và nhà nghiên cứu người Canada, cùng các cộng sự đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển insulin thành phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường. Để insulin không trở thành độc quyền cá nhân, bằng sáng chế được chuyển cho University of Toronto với giá tượng trưng 1 đô la.
Bạn không có quyền cần thiết để xem các tệp đính kèm với bài đăng này.
Hình đại diện của thành viên
Đã xem Bởi Mỹ Duyên
Chiune Sugihara (1900–1986) là nhà ngoại giao Nhật Bản từng làm việc tại Lithuania.

Năm 1940, khi hàng ngàn người Do Thái tị nạn từ Ba Lan tìm cách thoát khỏi chiến tranh và sự đàn áp của Đức Quốc xã, họ đã tìm đến lãnh sự quán Nhật Bản để xin thị thực quá cảnh. Dù chính phủ Nhật yêu cầu chỉ cấp thị thực cho những người đáp ứng đầy đủ điều kiện, Sugihara vẫn quyết định giúp đỡ những người không đủ giấy tờ.

Từ tháng 7 đến cuối tháng 8/1940, ông đã cấp hơn 2.000 thị thực quá cảnh Nhật Bản, giúp hàng ngàn người Do Thái thoát khỏi châu Âu. Các tài liệu lưu trữ ghi nhận 2.140 người có tên trong danh sách thị thực; tính cả thân nhân đi cùng, số người được cứu ước tính khoảng 6.000.

Sau chiến tranh, Sugihara rời ngành ngoại giao Nhật Bản. Việc ông rời Bộ Ngoại giao được cho là có liên quan đến việc cấp thị thực trái với chỉ thị. Sau đó, ông sống một cuộc đời bình dị.

Nhiều năm sau, những người được ông cứu đã tìm lại ông. Sugihara từng nói về quyết định của mình: “Tôi có thể đã bất tuân chính phủ, nhưng nếu không làm vậy, tôi sẽ bất tuân thần linh.”
Bạn không có quyền cần thiết để xem các tệp đính kèm với bài đăng này.
11 bài viết
Bạn đang xem trang 1 / 1 trang