Mật tông Tinh hoa Yếu lược, Phong thần và Huyền bí học, Tư tưởng về Đạo (cư sĩ Triệu Phước)- Phật giáo Thánh kinh (nữ Phật tử Dương Tú Hạc)- Kinh Chuẩn Đề (Thượng Tọa Thích Viên Đức)...
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
C – NHẪN-THỌ

Bồ-tát nhẫn chịu tất cả điều ác. Với chúng sanh, tâm bình đẳng, chẳng lay động như chốn đại địa.
Kinh Hoa Nghiêm

Nếu lấy tranh đấu để ngăn tranh đấu chắc chắn không thể ngăn được, duy có nhẫn nhục mới có thể ngăn được. Đó là phương pháp thật cao cả.
Kinh Trung A-Hàm

Như có người bạo ác, với việc phi lý, mà cứ phỉ báng nhau mãi. Có người trí lấy lời chân thật an ủi nhẫn chịu mới có thể trừ được.
Kinh Chư-Pháp Tập-Yếu

Sanh-Văn Phạm-Chí đến xin thưa Phật rằng: Đệ tử của Ngài với đệ tử của kẻ khác có điểm nào đặc biệt không? và có công đức chi hơn?
Đức Phật đáp: Có. Hai hạng đệ tử xuất gia và tại gia của Ta có những điểm đặc biệt: kinh doanh việc gì nếu thất bại, họ vẫn không buồn rầu khóc lóc, cũng chẳng phát điên cuồng. Hay họ bị những điều đói khát lạnh nóng, mưa gió ép bức, hoặc bị roi gậy đánh đập, hay bị mắng nhiếc độc ác, họ cũng có thể nhẫn nại được cả. Ấy là những điều mà kẻ khác không thể chịu được vậy. Đệ tử của Ta có những công đức như vậy đó. Ông Phạm-Chí nghe rồi xin thọ-giáo liền, quy-y Tam bảo thành kẻ Ưu-bà-tắc.
Kinh Tạp A-Hàm

Đức Thế Tôn dạy: Thà lấy gươm bén mổ bụng, lột da, hay gieo mình vào lửa, quyết không làm ác; thà đầu đội núi Tu-di chịu để cho tan thân, hoặc nhảy xuống biển cả cho cá trạch nuốt thây, cẩn thận đừng làm ác.
Kinh Nhẫn Nhục

Tuy nghe nhiều tiếng xấu, người tu khổ-hạnh phải nhẫn nhục, chẳng nên tự nói khổ, cũng chẳng nên sanh lòng buồn. Nghe tiếng xấu mà sợ hãi, đấy là loại thú rừng núi, là chúng sanh tánh tình vội vã, chẳng thành pháp xuất gia vậy.
Do một lời nói của kẻ khác, không thể khiến người thành đứa giặc cướp và cũng do lời nói của họ không thể khiến người chứng A-la-hán. Như ngươi tự biết mình thời chư Thiên cũng biết ngươi vậy.
Kinh Tỳ-Kheo Tị Nữ Nhơn Ố Danh

Bồ-tát bị mắng nhiếc lâu trăm ngàn kiếp, chẳng sanh lòng giận dữ, hay được khen ngợi trăm ngàn đời cũng chẳng đặng sanh tâm vui mừng. Ấy là vì đã liễu đạt lời nói người đời là lẽ sinh diệt của tiếng tăm như chiêm bao, như tiếng vang.
Luận Trí Độ

Do quán năm nghĩa để dứt lòng giận dữ:
1) Quán tất cả chúng sanh từ nhiều kiếp đến nay, đối với ta đã có ân huệ
2) Quán tất cả chúng sanh thường tiêu diệt từng mỗi niệm;
3) Quán có pháp mà không có chúng sanh thì đâu có năng tổn và sở tổn.
4) Quán tất cả chúng sanh đều đã chịu khổ, sao lại làm cho khổ thêm;
5) Quán tất cả chúng sanh là con mình, làm sao sanh tâm tổn hại được.
Luận Nhiếp Đại Thừa

Đứa dữ nghe người lành, cố tâm đến phá rối, ngươi tự phải cấm dứt, chớ giận trách làm chi; nó đến phá rối mình, nó tự chuốc lấy dữ.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương

Kẻ Sa-môn tu hành, lấy nhẫn làm đầu; phải như nước trong, không chút nhơ bẩn. Nước đối với thây người chết, chó chết, rắn chết, và đồ đại tiểu tiện đều rửa tẩy, nhưng nước vẫn trong sạch. Cần phải trì tâm như cầm chổi quét đất, quét sạch chỗ dơ; chổi đối với thây người chết, chó chết, rắn chết và đồ đại tiểu-tiện thảy đều quét trong sạch, nhưng chổi chẳng hư hao, cũng như sức mạnh và ánh sáng của gió, lửa đối với thây chết, chó chết, rắn chết và đồ đại tiểu tiện đều thổi bay, đốt cháy. Nhưng sức mạnh và ánh sáng của gió, lửa vẫn chẳng hao mòn.
Nếu người muốn đến giết mình, mắng mình, mình cũng chẳng nên giận; hay đến khen mình hoặc cười mỉa mình, mình chẳng nên giận; hoặc họ đến phá mình chẳng cho phụng sự Phật pháp, cũng chẳng nên giận dữ. Cần phải từ-tâm, chánh ý thì tội diệt phước sanh.
Kinh Tiên Ý

Nhẫn có 10 điều:
1) Quán cái ta và tướng mạo của ta
2) Quán nghĩ chủng tánh
3) Phá trừ kiêu-mạn
4) Ác đến chẳng trả thù
5) Quán tướng vô thường
6) Tu từ bi
7) Tâm chẳng buông lung
8) Bỏ các việc đói khát khổ vui
9) Dứt trừ giận dữ
10) Tu tập trí huệ

Nếu người nào có thể hoàn thành được 10 sự kiện này, phải biết người ấy đã tu được hạnh nhẫn nhục.
Kinh Bảo-Tích

Ngài Thiện-Thuận Tỳ-kheo từ nước Xá-Vệ khởi hành, vì muốn các chúng sanh được lễ Phật nghe pháp nên Ngài đem một số đông người cùng đi đến chỗ Phật.
Bấy giờ vua nước ấy nghi Tỳ-kheo này chắc có mưu mô muốn chiếm đoạt ngôi vua hay là cõi nước gì đây? Vua sai bốn người lực-sĩ chận đường Tỳ-kheo rồi mắng chửi đủ thứ và đánh đập nữa. Nhưng Ngài thản nhiên chẳng giận dữ gì cả. Khi ấy vua lại thay bốn lực-sĩ khác đến khuyên bảo Tỳ-kheo rằng: “Sao Ngài chẳng trả thù bọn người đánh mắng kia? Nếu Ngài ra tay thì chúng tôi giúp sức.” Ngài vẫn thản nhiên không nghe lời.
Bấy giờ, vua lại lập kế khác đưa vàng bạc và của báu cho bốn người ấy và đến bảo Ngài rằng: “Ngươi sẵn có phương tiện đông người sao chẳng cướp lấy của cải bọn kia? Ngươi thi hành đi, lỡ xảy ra điều gì trẩm sẽ giúp sức.” Tỳ-kheo lắc đầu tâu: “Tôi tuy nghèo cùng không thể tự sống, nhưng những của “chẳng cho” thì quyết chẳng lấy.” Vua nghe Ngài nói lời ấy cảm mến bãi mưu.
Kinh Bảo-Tích

Bồ-tát thường hay tu pháp nhẫn nhục, khiêm nhường, cung kính, vui vẻ, chẳng hại mình, hại người chẳng tự cao, chẳng tâng bốc người; chẳng khen ngợi mình, chẳng khen ngợi người. Bồ-tát chỉ nghĩ như vầy: “Ta phải thường thuyết pháp để xa lìa tất cả ác, dứt hẳn tâm tham; sân, si, kiêu mạn, tán loạn, bủn xỉn, ganh tị, dua nịnh. Chỉ biết lấy pháp đại nhẫn nhục mà an lập”.
Bồ-tát vì muốn thành tựu pháp thanh tịnh nhẫn nhục dù có chúng sanh thốt ra những lời độc ác mắng chửi, khinh uế, và tay cầm dao gậy đánh đập hủy hại. Bồ-tát chẳng sanh lòng giận dữ. Nên nghĩ như vầy: “Nếu Ta vì khổ này mà sanh lòng giận dữ chẳng tự điều phục, chẳng gìn giữ, chẳng hiểu rõ, chẳng yên lặng và chẳng chơn thật thì làm sao khởi tâm vui mừng đặng mà giải thoát được”.
Người nào quan sát được như vậy gọi là Bồ-tát tu hạnh không giận dữ.
Kinh Hoa Nghiêm

Không hủy nhục tất cả chúng sanh gọi là nhẫn nhục rốt ráo; tự thân bị thương-tổn cũng chẳng sân, gọi là gần gũi rốt ráo; nói pháp khiến phát tâm bồ-đề, gọi là chơn thật rốt ráo. Trọn nên được cả ba món này thì gọi là trọn nên hạnh nhẫn nhục rốt ráo vậy.
Kinh Bát-Nhã

Sau khi Đức Như Lai nhập diệt, nếu có người hủy báng Phật, Pháp, Tăng các ngươi chẳng nên giận dữ lo rầu, mà nên nghĩ thế này: “Nếu ta sanh lòng giận dữ thì chẳng phải Sa-môn”. Chẳng phải Sa-môn là chẳng tùy thuận đạo pháp vậy.
Kinh Hoa-Thủ

Tự mình ngăn giận, như ngừng xe chạy, là người lái giỏi bỏ tối vào sáng.
Giận dữ chẳng thấy pháp, giận dữ chẳng biết đạo; nếu hay trừ giận dữ, phước lành thường thuận thân.
Kinh Pháp-Cú

Nhẫn, hay sanh việc hòa bình giữa mình và người nghĩa là tự mình chẳng bị tội lỗi do giận dữ làm ô nhiễm tức là mình hòa bình; đã không ôm lòng hờn giận, chẳng làm khổ kẻ khác tức là người hòa bình vậy.
Luận Nhiếp Đại Thừa

Bấy giờ có vị Ma-Già thiên tử hỏi Phật bằng lời kệ: Giết gì được ngủ yên, giết gì được vui vẻ, và giết người hạng nào, được Cù-Đàm ngợi khen?
Khi ấy Đức Thế Tôn cũng đáp lại bằng kệ: Nếu giết kẻ giận dữ, được an ổn ngủ nghỉ, nếu hay giết giận dữ, khiến người được vui mừng, giết gốc độc giận dữ, thì được Ta khen ngợi. Ngươi giết giận dữ rồi, đêm dài không lo sợ.
Kinh Tạp A-Hàm

Đức Phật bảo đại chúng: Nhẫn hơn hết trên đời, nhẫn là Đạo an vui, nhẫn là hộ thân cô độc, là Hiền Thánh ưa vui, nhẫn hay làm bạn thân, nhẫn thêm đẹp tiếng khen, nhẫn giàu sang được lâu, nhẫn được đủ tướng tốt, nhẫn hay được oai lực, nhẫn soi biết thế-gian, nhẫn hay thành nghề khéo, sức nhẫn phục oán địch, sức nhẫn dẹp lo rầu, nhẫn được tướng mạo tốt, nhẫn được dòn họ hàng, nhẫn dời lấy báo tốt, nhẫn được đến đạo lành, kẻ nhẫn được sống lâu, kẻ nhẫn được ba ngôi, nhẫn chẳng hại chúng sanh, nhẫn xa lìa trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ỷ ngữ, tham dục, và giận dữ… nhẫn mới thành tựu; bố thí, trì giới, tinh tấn, thiền-định và trí huệ. Chính là Phật pháp vậy.
Kinh Đại Tập

Phật dạy: Nếu có Bồ-tát an trụ lòng từ nhẫn có 10 món lợi ích, những gì là mười?
1) Lửa không thể cháy
2) Dao không thể cắt
3) Độc không thể trúng
4) Nước không thể trôi
5) Được quỷ thần hộ
6) Được thân tướng trang nghiêm
7) Đóng các đường ác
8) Tùy sở thích sanh về Phạm-thiên
9) Ngày đêm thường yên
10) Thân chẳng lìa vui sướng.
Kinh Nguyệt Đăng Tam-Muội

Nhẫn nhục là đức cả: Vì khổ hạnh trì giới chẳng so sánh bằng. Ai tu được nhẫn nhục, mới được gọi là bực đại nhơn có sức mạnh.
Kinh Di-Giáo

Phật dạy: Kẻ nhẫn là nhiều sức mạnh vậy, vì chẳng ôm lòng ác, lại thêm khoẻ mạnh. Người nhẫn không ác, chắc được người khác tôn trọng.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương

Ánh sáng nhẫn nhục mạnh hơn sức mạnh của mặt trời, trăng; rồng voi, tuy gọi rất mạnh, sánh với nhẫn nhục muôn phần chẳng kịp một; ánh sáng bảy báu kẻ phàm quý trọng, nhưng hay rước khổ, vì gây tai họa; báu của nhẫn nhục thủy chung được yên.
Bố thí mười phương, tuy được phước lớn, phước chẳng bằng nhẫn. Ôm nhẫn tu trì, đời đời không oán, lòng dạ an nhiên, trọn không độc hại.
Đời không chỗ nương, duy nhẫn đang nương, là nhà yên ổn, chẳng sanh tai quái. Nhẫn, áo giáp thần, chẳng bị đao binh. Nhẫn là đại thuyền, vượt qua bể khổ. Nhẫn là thuốc hay, cứu sống nhiều mạng. Chí hướng kẻ nhẫn, muốn gì chẳng được!
Kinh Nhẫn-Nhục

Khi được Phật đang ngự tại nước Ca-tỳ La-vệ có người tên Sai-ma-kiệt hỏi Phật rằng: “Bồ-tát tu hạnh gì mau chứng Đạo vô thượng chánh nhơn, đủ 32 tướng tốt, và đến khi lâm chung chẳng tán loạn, chẳng đọa; và đối với tất cả pháp không bị ngăn ngại?”
Phật đáp: Hạnh của Bồ-tát lấy nhẫn nhục làm gốc. Nhẫn nhục có 4 món:
1) Khi bị mắng chửi làm thinh chẳng trả thù
2) Khi bị đánh đập chẳng giận hờn
3) Có kẻ giận dữ đến, mình lấy lòng từ nghinh tiếp.
4) Có kẻ khinh hủy đến, chẳng nghĩ điều ác của họ.
Kinh Bồ-Tát Sanh Địa

Nhẫn nhục là chánh-nhơn của Bồ-đề: Vô thượng chánh-đẳng chánh-giác kết quả của nhẫn nhục vậy.
Kinh Ưu-bà-tắc giới

Tinh tu đức nhẫn nhục, hiển hiện Bồ-đề Phật.
Kinh Hoa Nghiêm
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
D – CẦN-TẤN (77-84)

Này các Tỳ-kheo! Nên siêng tu tinh tấn thì việc gì cũng dễ. Vậy nên các ngươi phải siêng tinh tấn; ví như chút nước thường chảy thời có thể xói mòn đá. Nếu tâm kẻ tu hành thường khi biếng trễ, ví như dùi cây lấy lửa chưa nóng mà nghỉ, dầu muốn được lửa, lửa vẫn khó được.
Kinh Di-Giáo

Như hai người đồng sắp đi đến một chỗ, một người cưỡi ngựa hay và một người cưỡi con ngựa dở; tuy cưỡi ngựa dở, vì khởi hành trước nên được đến trước. Những người tin, hiểu sớm siêng tu tinh tấn, được trước đến Niết bàn.
Luận Tỳ-Bà-Sa

Đệ tử Phật tên Bạc-Cụ-La nói: Tôi từ khi xuất-gia đến nay, đã tám mươi năm qua, chưa từng ngủ nghỉ: hông chẳng dính chiếu, lưng chẳng dựa vào đâu.
Kinh Bạc-Cụ-La

Xưa có kẻ nhạc-sĩ, biết đủ điệu nhạc, đến nhà trưởng-giả xin trâu. Ông trưởng-giả vì chẳng muốn cho trâu nên bảo anh rằng: Nếu anh đánh nhạc được luôn ngày đêm chẳng nghỉ đủ một năm tròn thì tôi cho trâu.
Anh thưa: Tôi đánh được, xin Ông cũng nghe luôn; trưởng-giả nói: Tôi nghe luôn chớ sao! Anh ta nghe thế rất vui mừng, chăm lòng đánh luôn 3 ngày 3 đêm, không chút nghỉ tay. Trưởng-giả chán quá nghe không nổi nữa liền sai người nhà đem trâu ra cho.
Tỳ-kheo tu đạo cũng cần như vậy. Được quả báo bất tất phải trải qua nhiều kiếp, hễ tinh tấn càng mạnh được quả báo càng sớm.
Kinh Tạp Thí Dụ

Bồ-tát siêng tu hơn hết là siêng tu tinh tấn. Cho nên chẳng bị các món phiền não nầy làm rối loạn là: tham dục, giận dữ, ngu si, khinh dễ, não hại, ganh ghét, hiềm hận, đua dọc, không hổ, không trẽn.
Bồ-tát thường nghĩ như vầy: “Ta chẳng muốn não hại các chúng sanh cho nên tu tinh tấn; thảy vì muốn phân biệt tất cả chúng sanh mà tu tinh tấn; vì muốn biết tất cả chúng sanh chết đây sanh kia nên tu tinh tấn; vì muốn biết thật pháp của các Đức Phật nên tu tinh tấn; vì muốn biết các pháp bình đẳng để làm phương tiện khéo léo nên tu tinh tấn; vì muốn biết ba đời bình đẳng nên tu tinh tấn; vì muốn chứng được pháp các Đức Phật nên tu tinh tấn; vì muốn biết đại trí huệ và phương tiện khéo léo của các Đức Phật nên tu tinh tấn; vì muốn biết tất cả Phật pháp để rộng vì chúng sanh phân biệt nên tu tinh tấn”.
Bồ-tát tu hạnh tinh tấn như vậy, hoặc có người hỏi: Nếu có người tuy chịu khổ trong đại địa ngục trãi lâu vô lượng vô số kiếp để khiến chúng sanh được Niết bàn rốt ráo chăng?
Bồ-tát trả lời: Ta thảy vì tất cả chúng sanh trong thế-gian mà chịu khổ ở địa-ngục; sau khi chịu khổ Ta được hưởng vui vì ta thay cho tất cả chúng sanh mà chịu khổ để khắp khiến chúng sanh được Niết bàn rốt ráo. Nhiên hậu ta mới trọn nên Vô thượng bồ đề. Được như thế mới gọi là hạnh vô tận của Bồ-tát.

Bồ-tát tu tập các hạnh mà không sanh lòng mỏi mệt, thế lực mạnh mẽ không ai chế phục được, như thế mới đầy đủ tất cả trí huệ.
Kinh Hoa Nghiêm

Có 10 món tinh tấn Bồ-tát có thể tu:
1) Ví muốn chúng sanh được giải thoát nên mặc áo giáp tinh tấn để phá trừ các chướng ngại.
2) Chăm nghĩ sức mạnh tinh tấn.
3) Xa lìa chấp trước “có” và “không” mà tu tinh tấn,
4) Vì muốn lợi ích chúng hữu-tình mà tu tinh tấn,
5) Vì muốn được bồ-đề gia-hạnh mà tu tinh tấn
6) Vì muốn nối liền nhau mà tu tinh tấn.
7) Vì muốn trong sạch mà tu tinh tấn.
8) Vì kẻ khác không làm được mà tu tinh tấn.
9) Chẳng theo tà-giáo của kẻ khác mà tu tinh tấn.
10) Vì không có tâm ngạo mạn mà tu tinh tấn.
Bồ-tát siêng-năng tu tinh tấn chẳng những vì mình chứng được quả Vô-thượng chánh đẳng chánh giác mà còn vì muốn làm lợi ích cho tất cả chúng hữu tình nữa.
Kinh Trừ Cái Bồ-tát Nhất Sở Vấn

Có vị Sa-môn ở nước La-Duyệt-Kỳ, Ngài ngồi mà thề rằng: “Nếu ta chẳng chứng Đạo thì quyết không đứng dậy. Khi muốn buồn ngủ, ta có cái dùi nhọn dài tám tấc, lấy chọt hai bên hông đau không thể ngủ”. Trải qua một năm Ngài chứng được Đạo.
Kinh Pháp-Cú Thí Dụ

Phật dạy: Các ngươi Tỳ-kheo! Ngày thời siêng năng tu tập các pháp lành chớ bỏ sai thời; đầu đêm, cuối đêm cũng đừng luống bỏ. Giữa đêm tụng kinh, do mình làm chừng đỗi, đừng vì nhân duyên ngủ nghỉ, luống qua một đời không được chút gì. Phải nhớ lửa vô thường, đốt các thế-gian, phải sớm cầu tự độ, đừng nên ngủ nghỉ.
Các giặc phiền não, thường rình giết người lắm hơn kẻ oan gia. Đâu nên ngủ nghỉ mà chẳng tự tỉnh ngộ vậy? Rắn độc phiền não, còn ngủ trong tâm người, ví như rắn hổ mun, còn ngủ trong nhà ngươi, ngươi phải lấy cái móc trì-giới, mau trừ nó đi; rắn ngủ đã chạy khỏi, mới nên yên ngủ. Nếu nó chưa chạy khỏi mà ngủ là người không biết xấu hổ vậy.
Kinh Di-Giáo

Buông lung chính là gốc của các điều ác, chẳng buông lung mới nguồn của các điều lành
Kinh Niết-Bàn

Lỗi buông lung là nặng nhất trong các lỗi. Người ngu ưa buông lung nên thường bị các khổ-não. Nếu ai xa lìa buông lung thì thường được an vui. Tất cả các khổ não buông lung làm cội gốc, cho nên muốn khỏi khổ não cần phải bỏ buông lung.
Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ

Đức Phật bảo chàng Lê-Xa-Tử ở thành Tỳ-Xá-Li rằng: buông lung chẳng phải đạo pháp đi đến Niết bàn. Buông lung có 13 lỗi:
1) Ưa làm những nghiệp đời bất thiện
2) Ưa nói những lời vô ích
3) Ưa ngủ nghỉ cho lâu
4) Ưa nói chuyện đời
5) Ưa gần gũi bạn ác
6) Thường biếng nhác trễ nải
7) Thường bị người khinh dễ
8) Dầu có được nghe cũng liền quên.
9) Ưa ở chỗ hẻo lánh
10) Các căn chẳng điều phục được
11) Tham chẳng biết đủ
12) Chẳng ưa ở chỗ vắng lặng.
13) Chỗ thấy biết bất chánh.
Nếu người nào buông lung tuy gần Phật và các đệ tử Phật cũng như xa cách.
Kinh Niết-Bàn

Phật dạy: Con người biếng hại cho các hạnh nghiệp; tại gia mà biếng nhác áo cơm chẳng no đủ, sản nghiệp chẳng phát đạt; xuất gia mà biếng nhác, không thể thoát khỏi khổ sanh tử. Tất cả việc đều nhờ tinh tấn mà hưng khởi; tại gia tinh tấn thời áo cơm đầy đủ, gia nghiệp phát đạt, xa gần khen ngợi. Xuất gia tinh tấn thời trọn nên 37 phẩm trợ đạo, dứt nguồn sanh tử, được đến thành Niết bàn an vui.
Kinh Bồ-Tát Bổn Hạnh

Khi Đức Phật ngự tinh-xá Kỳ-viên, có kẻ đệ tử tên Nhị-Thập-Ức, siêng năng học tập cả đêm không ngủ và chuyên cần tu các đạo pháp. Rồi Ông tự nghĩ: “Đối với giới luật, ta là đứng đầu, nhưng các món lậu tâm, chưa được giải thoát. Nhà cha mẹ ta rất giàu có, ta nay thôi muốn xả giới về nhà chỉ tu phước nghiệp bố thí cũng được.”
Bấy giờ Đức Phật dùng tha-tâm-trí quán biết ý nghĩ của Nhị-Thập-Ức; Ngài liền sai kẻ thị-giả gọi đến dạy rằng: “Này Nhị-Thập-Ức! Ta nghe ngươi khi còn tại-gia chơi đàn cầm hay lắm; nếu giây đàn thẳng, tiếng nó hay không ?” Dạ thưa Thế-Tôn, không hay.
Phật lại hỏi: “nó dùn, tiếng có hay không?” Dạ thưa cũng không hay.
Phật hỏi nữa: “vừa vừa không thẳng không dùn thì như thế nào?” Dạ thưa Thế-Tôn: tiếng nó mới thật là hay.
Nhơn đó Phật dạy: Này ngươi, khi tinh tấn lắm tâm loạn, mà lúc chẳng tinh tấn, tâm sanh biếng nhác; nếu được vừa vừa bực trung thì quyết được Đạo giải thoát.
Kinh Trung A-Hàm

Ngài Cần-Thủ Bồ-tát nói kệ rằng: như dùi cây lấy lửa, chưa có mà ngừng nghỉ, sức lửa liền dứt mất, biếng nhác cũng như thế.
Kinh Hoa Nghiêm

Trong hai mươi năm ngài Xá-Lợi-Phất thường siêng năng tu tập phép chỉ-quán, đi, đứng, ngồi, nằm Ngài chánh niệm quan sát không hề loạn động.
Kinh Niệm Phật Tam-Muội

Đức Phật nói với A-Nan rằng: Di-Lặc phát tâm trước Ta 42 kiếp, rồi Ta mới phát tâm tu Đạo, vì nhờ sức đại tinh tấn mà Ta vượt qua 90 kiếp, được thành Đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Kinh Di-Lặc Sở Vấn

Trong sáu Độ ba môn trước là thuộc về giới-học, thiền định thuộc về tâm học, Bát-nhã thuộc về huệ-học duy có tinh tấn là biến khắp tất cả các món.
Luận Du Già Sơ Địa

Khi Đức Phật Để-Sa ra đời, Bồ-tát chấp mười ngón tay, quì xuống một gối, đọc một bài kệ khen ngợi công đức của Phật luôn cả bảy ngày đêm, liền được siêu chín kiếp
Luận A Tì Đạt Ma

Những người tu đạo, ví như một người chiến với vạn người. Khi mặc áo giáp ra cửa thành, trong tâm hoặc khiếp sợ, hoặc nửa đường mà lui, hoặc chết tại trận, hoặc thắng trận mà về. Sa-môn học đạo, cần phải kiên quyết giữ gìn tâm ý, tinh-tiến dũng nhuệ, chẳng sợ gì hết, phá diệt các ma, mau chứng được Đạo quả.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương

Lấy tâm buộc tâm, lấy tâm trụ tâm, tâm chuyên một cảnh, thứ lớp không hở, thì được định tâm. Tâm thường yên lặng.
Kinh Bảo Vân

Chăm lòng học đạo pháp, phát tâm đại dũng mãnh, quyết được đến Bồ-đề.
Luận Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
E – SẮC-DỤC (85-93)
Sắc-dục là xiềng cùm của đời vậy, phàm-phu say đắm, không thể tự cứu. Sắc-dục là bệnh nặng nhứt của đời vậy, phàm-phu khốn khổ, đến chết chẳng khỏi. Sắc-dục là tai họa của đời vậy, phàm-phu gặp nó, lâm nguy khó tránh.
Người tu Phật-pháp đã được bỏ rồi, lại còn nghĩ vẩn, như được phóng thích, lại muốn vào ngục lại, cũng như bệnh lành, lại muốn đau lại cho nên bị người trí quở trách mình đó là điên.
Kinh Nhật Minh Bồ-Tát

Đệ tử tại gia nên lìa tà dâm, với vợ-hầu của mình cũng là đủ rồi; với đàn-bà khác, chẳng nên sanh một niệm bất chính
Kinh Hoa Nghiêm

Với vợ mình, còn cho là chẳng đủ, lại ưa phạm đến vợ người ta, ấy là người không biết hổ thẹn, chịu nhiều khổ mà không có chút vui vì đời nầy và đời sau, bị quả báo khổ buộc ràng.
Kinh Ni-Kiền-Tử

Phải biết tà dâm có sáu điều tai biến:
1) Chẳng giữ được tự thân
2) Chẳng giữ được vợ con
3) Chẳng giữ được gia thuộc
4) Vì họ nghi, nên sanh xấu
5) Kẻ oan gia được cơ hội
6) Các khổ đoanh vây

Đã có những điều ác nầy, thời sự nghiệp phế bỏ: của chưa làm ra được thời chẳng được, của đã làm ra được thời tiêu mất, và của cải đã sẵn có chứa để từ lâu cũng tiêu hao hết.
Kinh Thiện Sanh Tử

Xâm phạm đến vợ con của người, bị chồng hoặc kẻ lân nhơn biết được, đến khi bị lụy dao gậy đánh chém thương tổn thân mạng, hoặc cắt đầu, chân, hoặc bị pháp luật nã bắt giam ngục bị trọng hình.
Chết xong bị đọa hỏa-ngục đốt cháy, được tái sanh làm người khuê-môn bị rối loạn; xa cách pháp lành, thường ôm lòng hãi sợ chẳng được yên.
Phật dạy: dâm là hạnh bất tịnh, mê hoặc mất chánh-đạo, hại mạng mà chết oan, bị tội vì ngu si, chết lại đọa ác-đạo, cho nên đừng dâm loạn
Đức Phật nói tà dâm có 10 tội:
1) Bị nguy hại với vợ hay chồng mình
2) Vợ chồng bất hòa thường đánh cãi luôn
3) Các điều ác ngày càng tăng thêm, điều lành càng tiêu mòn
4) Tấm thân chẳng giữ được, vợ con bị côi cút
5) Của cải ngày càng hao mòn
6) Có xảy ra các việc xấu, thường bị người nghi.
7) Giòng họ, bè bạn, chẳng ai ưa mến
8) Thường bị oán vì gieo nghiệp nhơn xấu
9) Chết đọa địa ngục
10) Được tái sanh làm người, gái thời bị cảnh chồng chung, trai thời vợ chẳng trinh chánh.
Luận Trí Độ

Vua Ưu-Đà-Diên thưa Phật rằng: tôi bị đàn-bà lừa dối, muốn hại, thưa Thế-Tôn ! Tôi cho người đàn-bà nầy rất là độc. Xin Ngài trừ khử đàn-bà độc hại nầy đi.
Đức Phật bảo vua rằng: nhà vua muốn hỏi tội người đàn-bà thì trước phải hỏi tội kẻ trượng phu đã. Trượng phu có 4 điều lỗi nên bị đàn-bà dối gạt:
1) Vì say mê buông lung, chẳng biết gần gũi Sa-môn, để lãnh thọ giới pháp thanh tịnh mà tu phước nghiệp; kẻ đã thọ giáo pháp của Ta cũng chẳng tin cho vững, ưa các thứ tà ác là đàn-bà múa hát giỡn cợt, chỉ chăm học đòi theo đứa ngu si.
2) Cha mẹ vì muốn lợi lạc cho con, mà làm những việc khó làm, phải chịu những đồ bất tịnh; và lại vì muốn con mau trưởng thành nên đối với con khó nhọc cho bú mớm, nuôi dưỡng quên bề mỏi mệt; và nhờ của cải chính mình phải gian nan khó nhọc mới được, đem sắm dụng cụ cho con chẳng biết nhàm chán. Nhưng người con bị đàn-bà … đối với song thân già yếu ngỗ nghịch và coi rẽ. Rồi có bấy nhiêu của cải bị lãng phí tiêu hao, thậm chí khiến cha mẹ không chổ nương nhờ, đến nỗi đuổi cha mẹ ra khỏi nhà
3) Bị tà kiến, chẳng đóai tưởng việc hủy hoại thân thể, tự dối gạt mình, như say đắm đàn-bà là gốc.
4) Làm việc phải thời keo rít tiền của mà gài thời bất kể là bao. Nhưng có bị đàn-bà khinh dể, lấn át, hủy nhục, đánh đập, mắng trách, cũng vẫn vui chịu lấy. Hoặc khi đàn-bà bị chút buồn lo, thì liền nghĩ làm thế nào cho người yêu được vui vẻ. Làm trai mà bị đàn-bà dùng lời nói dối gạt đến như nước nầy thì thật chẳng biết nói sao!

Nếu kẻ nam-nhi chơn chính thì làm sao bị đàn-bà lừa gạt ? Nhà vua nghe rất mừng, xin quy y Tam Bảo, làm kẻ ưu-bà tắc.
Kinh Bửu-Tích

Ông Ma-Nhơn-Đề ở nước Câu Diên Di đem con gái đến chỗ Phật, thưa Phật rằng: Đứa con tôi dung mạo tuyệt đẹp, thế gian vô song địch, các vị Quốc Vương, hào tộc đến cầu hôn mà tôi đều từ chối không gả. Nhưng tôi nhận thấy Ngài là bực Đại nhân nhan sắc rực rỡ nguy nga đời chưa từng thấy nên tôi xin hiến cháu này lên Ngài. Phật dạy: cái đẹp của đứa cháu gái nầy ở chỗ nào? Ma-Nhơn-Đề đáp: từ đầu cho đến chân, xem cho chu tất, không chổ nào chẳng đẹp. Phật nói: Lầm thay, đồ con mắt thịt ! Ta xem thấy, từ đầu đến chân, không một chổ nào đẹp cả. Ta thấy : ở đầu người có tóc, tóc chỉ là một thứ lông, lông ấy cũng như lông ngựa, lông voi; dưới tóc là sọ, sọ chỉ một thứ xương đầu, cũng giống như xương đầu heo của các nhà đồ tể hàng heo. Trong đầu có não, não giống như đất bùn, nó tanh hôi nhíu mũi, nó rơi xuống đất chẳng ai dám đụng tới. Còn hai con mắt là hai ao nước, đưa tay dụi vào nước mắt tuôn chảy. Trong hai lổ mũi, có đầy mũi dãi, trong miệng có đàm nhớt, trong bụng có gan phổi v.v. toàn là những vật tanh hôi. Trường vị, bàng quan đựng toàn cứt, đái hôi thúi khó tả. Hai tay, hai chân là xương với xương kề nhau như trụ cột. Gân, da co dãn nhờ hơi thở mà chuyển động, không khác gì con người máy bằng gỗ. Nếu mổ xẻ nó ra từng đốt rời rã, đầu chân nằm ngổn ngang. Tất cả loài người đều như vậy cả.

Vậy thì có chi là đẹp mà ngươi bảo vô song. Ta không dùng vợ, thôi ngươi đem nó về đi. Ma Nhơn Đề nghe Phật nói thế xấu hổ vội dắt con chạy về mà chẳng kịp bái từ.
Kinh Xuất Diệu

A-Nan đi khất thức rồi, đang khi cầm bình bát đi dọc theo mé sông, chợt thấy một cô gái gánh nước, A-Nan đến xin nước với cô, cô liền cho nước rồi đi theo sau A-Nan đến chỗ ngài ở. Nàng mới trở về nhà. Về nhà, nàng thưa mẹ tên là Ma Đăng rằng: thưa mẹ khi nào mẹ gả con lấy chồng đừng gả cho người nào khác. Hôm nay đi gánh nước ở sông, con gặp một ông sa-môn, ông lại xin nước, con cho và hỏi tên, ông cho biết là A-Nan. Con được A-Nan làm chồng thời mẹ gả, bằng không thời con chẳng ưng ai hết.
Bà mẹ đi dọ hỏi, mới biết A-Nan là đệ tử Phật.
Bà về nhà bảo với con rằng: A-Nan thờ đạo Phật làm sao làm chồng con được ? Nàng nghe thế buồn rầu khóc lóc bỏ ăn.
Bà mẹ vốn rành nghề ma thuật, mời A-Nan về nhà cúng cơm, nàng rất vui sướng. Bấy giờ bà thưa với A-Nan rằng: Con gái tôi nó muốn làm vợ ông.
A-Nan nói: tôi giữ giới không cưới vợ. Bà ta buộc: con tôi chẳng được ông làm chồng thời nó tự tử. A-Nan nói: Đức Phật thầy tôi chẳng cho phép tôi gần đàn-bà.
Bà mẹ liền vào trong nhà, đem chuyện ấy thuật lại với con. nàng khóc rống và bảo mẹ rằng: Xin mẹ đóng kín cửa lại đừng cho ông ra đi, tối nay con bắt làm chồng. Bà già nghe lời con đóng cửa, rồi dùng pháp thuật mà trói A-Nan lại; trời vừa tối nàng trang điểm thân thể rất đẹp rồi đi vào nhà trong. Ngài A-Nan chẳng đến giường ngủ. Bà ta đốt một đống lửa, rồi đến nắm phăng chéo áo A-Nan mà rằng: nếu ông không vì con gái tôi làm chồng nó, thời tôi vất ông vào đống lửa này. Ngài A-Nan rất khổ tâm, chẳng biết làm sao, chỉ biết niệm Phật mà thôi.
Bấy giờ, Đức Phật quán biết A-Nan lâm nạn liền đến cứu đem về. Khi thấy A-Nan ra đi nàng khóc kêu liên miên.
Sáng ngày nàng đi tìm cho được, khi thấy A-Nan đang mang bình bát đi khất thực thì nàng đi theo sau xem thấy bộ đi, gương mặt của A-Nan, mặc dù ngài đã cố tâm đi tránh mà nàng vẫn theo luôn.
Khi A-Nan về đến nơi và thưa với Phật rằng: con gái của mụ Ma Đăng nó đi theo sau lưng tôi luôn cả ngày nay. Đức Phật sai người gọi đến và hỏi: ngươi đi theo A-Nan để xin thứ gì? nàng thưa: Tôi nghe A-Nan không vợ, tôi cũng không chồng, nên tôi muốn xin làm vợ. Phật nói: A-Nan là kẻ trọc đầu, còn ngươi có tóc, nếu ngươi có thể cạo tóc, thời ta sẽ cho A-Nan làm chồng ngươi. Nàng thưa: tôi có thể cạo tóc. Phật nói: phải trở về nhà xin với mẹ ngươi đã, cạo đầu xong rồi sẽ lên đây…
Nàng về nhà thuật lại lời Phật dạy và xin mẹ cho cạo đầu. Bà nói: từ khi sanh con, mẹ ưa cái đầu tóc con lắm, nhưng vì sao con quyết lấy ông sa-môn làm chồng? Chớ ý mẹ muốn gả con cho những kẻ giàu sang trong nước là hơn. Nàng quả quyết: dầu tôi có chết vẫn xin làm vợ A-Nan mà thôi. Bà nói: thiệt mầy làm nhục nhã giòng họ tao quá. Bất đắc dĩ bà phải hạ dao cắt tóc.
Xong, nàng mới đến chỗ Phật và thưa: tôi đã cắt tóc rồi, Phật hỏi: ngươi yêu cái gì của A-Nan ? dạ thưa tôi yêu con mắt, lổ mũi, cái miệng, cái tai, tiếng nói và cả bộ tịch đi đứng của A-Nan. Đức Phật dạy: Trong hai con mắt thời có nước ghèn, trong hai lổ mũi thời có cứt mũi, trong hai lổ tai thời có cứt ráy, trong miệng thời có đàm giãi và trong bụng là đầy cứt đái, toàn là những thứ tanh hôi nhơ nhớp bất tịnh. Mà đã thành vợ chồng thời tất phải có khi trần truồng xấu xí và do đó mà đẻ con. Đã có con thì nó phải chết mà khi nó chết thời kêu khóc thảm thê.
Thế thì đối với cái thân có ích đâu mà yêu mến. Nàng liền suy nghĩ, lúc mà hai thân trần truồng xấu xí thời trong lòng hết nghĩ bậy, tức thì chứng được A la hán.
Bấy giờ Phật biết nàng đã chứng đạo nên ngài bảo: thôi ngươi đứng dậy đi đến chỗ A-Nan đi! Nàng xấu hổ quá liền đến quỳ trước Phật cúi đầu thưa rằng: Con vì ngu si nên theo A-Nan; nay con đã tỉnh ngộ như người đi trong tối được ánh sáng đèn lửa, như kẻ đui được sáng mắt, như người già yếu được cậy. Nay Phật cho tôi chứng được đạo, tâm tôi được khai ngộ như vậy.
Khi ấy Đức Phật bảo các Tỳ-kheo rằng: trong đời quá khứ cách nay chừng một trăm đời, con gái của bà Ma Đăng này đã cùng với A-Nan thành vợ chồng, thương mến nhau lắm. Ngày nay đôi đứa gặp nhau như anh gặp em. Như vậy đạo Phật ai được nghe quyết định có lợi ích chớ?
Kinh Ma Đăng Nữ

Phàm phu trọng sắc-dục, đành chịu làm tôi mọi trọn đời chạy rong theo, bị đủ điều khổ sở.
Kinh Nhật Minh Bồ-Tát

Phật dạy: Dù là vì lợi dưỡng, cũng đừng nên làm nghề mãi dâm, vì chẳng phải lối sanh sống chân chính.
Kinh Phạm Võng

F –HỔ-TRẼN (94-95)

Trên đời có hai pháp nhiệm mầu ủng hộ cho thế gian đó chính là HỖ và TRẼN vậy. Nếu không có hai pháp nầy thế gian không thể phân biệt được là cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè, tôn trưởng, và kẻ lớn người nhỏ, thời đồng với các loại cầm thú có khác gì.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Lấy nước hổ-trẽn rửa tẩy nhớp trần lao thời thân tâm đều thành món đồ trong sạch.
Kinh Tâm-Địa Quán

Hổ-trẽn là đồ áo mặc để gìn giữ các điều lành.
Kinh Đại Văn

Đồ mặc hổ-trẽn đối với các món trang sức nó là thứ nhất. hổ-trẽn như cái móc sắt nó ngăn chận những điều phi pháp cho người. Vậy nên các Tỳ-kheo thường phải biết hổ-trẽn, đừng chút nới bỏ. Nếu bỏ rơi hổ-trẽn thời mất các công đức; người có hổ-trẽn thời có pháp lành, bằng không cùng với cầm thú không khác chi mấy. Đời nếu có người hiểu biết hổ-trẽn, người ấy tiến bộ dễ dàng, như giựt ngựa hay.
Kinh Bột

Hổ-trẽn có hai thứ; một là tự tánh, hai là nhơn duyên. Tự tánh là biết mình đã làm những điều phi pháp, lo sợ quả báo sanh lòng hổ-trẽn. Nhơn duyên là đối với những việc ác đã làm sợ người đời biết mà sanh hổ-trẽn.
Thứ hổ-trẽn tự tánh chẳng phải do nhơn duyên mà được. Hổ-trẽn tóm tắt có 4 món:
1) việc chẳng nên làm mà làm sanh lòng hổ-trẽn
2) việc nên làm mà chẳng làm sanh lòng hổ-trẽn
3) tự lòng mình sinh nghi mà hổ-trẽn
4) bị lợi mà che giấu sợ người biết mà hổ-trẽn
Kinh Thiện Giới

Ai ôm lòng hổ-trẽn thời các tội lỗi tiêu diệt, được trong sạch như xưa.
Kinh Niết-Bàn

(còn tiếp)
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
G –LÌA CÁC TRỘM CƯỚP (96-103)

Đệ tử phải xa lìa các điều trộm cướp, những đồ vật giúp sống nên vừa đủ; Vật của người ta chẳng cho thời chẳng lấy.
Kinh Hoa Nghiêm

Trộm cướp có 10 tội:
1) Người chủ có vật thường giận
2) Thường bị người nghi ngờ
3) Không lúc nào chẳng tính mưu gian
4) Phường ác nhơn đến làm bạn, người hiền tránh xa
5) Phá hủy tướng lành nơi thân
6) Bị tội với Quan
7) Của cải bị Quan tịch thu
8) Gây nghiệp nhơn bần cùng
9) Chết đọa địa ngục
10) Đời sau được làm người khổ mạt kiếp, khi làm được của bị người xúm dùng chung; hoặc bị giặc lấy hay lửa cháy tiêu. Hoặc là đứa con bất tiếu phá hủy tan tành.
Luận Trí Độ

Chẳng ăn trộm của cải của người ta là giàu to. Vì chẳng bị quan vua tịch thu, nước lửa chảy trôi, hay giặc trộm cướp lấy. Không có kẻ oan gia không có ác tử mà được nhiều người ưa mến. Đi đến đâu cũng không khó, vì đã dứt hẳn những điều lo sợ.
Kinh Hải Long Vương

Nếu gặp thấy vật rơi nơi đường xá, hoặc vàng bạc hay những của báu; lượm rồi xướng rằng: “Vật nầy là của ai?” Nếu có người nói: “ Vật ấy là của tôi”, thì phải gạn hỏi hình tướng, nếu đúng sự thật nên trả lại họ. Nếu không người đến nhận thời cứ sau mỗi bảy ngày là đem vật ấy ra mà xướng như vậy nữa. Và sau cũng không có người chủ nhận thì đem gởi cho vua, quan, quận, huyện, hay các cơ quan hữu trách; Những cơ quan ấy cũng chẳng thấy chủ đến nhận lãnh thì mới đem ủng hộ cho Phật-pháp.
Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ

Nếu lượm được những vật thuộc loại khăn áo, phải xướng lên cho người hay đến nhận, bằng không người nhận thời treo chỗ cao, cho người ta dễ thấy. Nếu có người nói: “ Vật nầy là của tôi”, thì nên hỏi họ: “Ngươi làm mất vật nầy ở chỗ nào?” Họ nói đúng sự thật thì trả lại cho họ, bằng chẳng đúng, phải giữ lại sau thời gian ba tháng, khi lượm được nơi vườn tháp thì đem cúng cho tháp dùng, mà lượm được vườn Tăng thì đem cúng cho tứ phương Tăng dùng.
Nếu như lượm được vật quý giá như vàng bạc hay chuỗi anh lạc thời không nên vội xướng rõ, người lượm được phải coi kỹ hình dáng hoặc số lượng của vật rồi mới đưa ra, có người nhận, phải hỏi cho đúng sự thật, rồi trước đông người mà trả lại họ, chớ không nên ở chỗ kín mà cho lại.
Luật Tăng Kỳ

Sống không biết hổ, như chim ăn do mặt mày chịu nhục, gọi là sống dơ. Liêm sỉ tuy khổ, giữ nghĩa thanh bạch, tránh nhục chẳng dối, gọi là sống sạch.
Kinh Pháp-Cú

Thà nên giữ Đạo, nghèo hèn mà chết, chẳng nên vô Đạo, giàu sang mà sống.
Kinh Lục Độ Tập

Phật dạy: Các Tỳ-kheo! Đa dục là khổ, sống chết mệt nhọc bởi tham dục sanh; ít dục vô vi mới giác ngộ thân tâm tự tại.
Kinh Bát Đại Nhơn Giác

Phật dạy: Hỡi các Tỳ-kheo ! Phải biết, những người đa dục, vì cầu lợi nhiều, khổ não cũng nhiều; Những người thiểu dục, không cầu không dục, không có khổ não. Cho nên ai muốn lìa khổ, cần phải tu tập hạnh thiểu dục. Huống chi hạnh thiểu dục có thể sanh các công đức. Những người tu hạnh thiểu dục thời không đua dọc chìu theo ý người để cầu cạnh, nhất là chẳng bị các căn lôi kéo. Người tu thiểu dục, tâm địa thản nhiên, không có lo sợ, gặp việc có thừa, thường chẳng thiếu thốn. Hễ tu thiểu dục là có Niết bàn.
Kinh Di-Giáo

Người tham, chứa để nhiều, được mấy cũng chẳng vừa. Tâm vô minh điên đảo, thường mưu xâm lấn người đời hiện nhiều oán ghét, chết rồi đọa ác đạo. Cho nên người trí, phải tu tri-túc
Kinh Ni-Kiền-Tử

Nếu người lòng tham không biết nhàm đủ, chỉ biết cầu cho nhiều, tội ác càng tăng thêm. Bồ-tát chẳng thế, thường nghĩ tri túc, A-Nan phận nghèo mà giữ Đạo giác ngộ. Duy huệ là sự nghiệp.
Kinh Bát Đại Nhơn Giác

Người xuất gia có 4 chứng bệnh cho nên chẳng được bốn đạo quả Sa-môn; 4 chứng bệnh là gì? Là bốn thứ ác dục:
1) Tham ăn uống
2) Tham áo mặc
3) Tham đồ ngủ
4) Tham của đời

Gọi là bốn thứ ác dục, là bệnh của kẻ xuất gia. Có bốn món thuốc hay, có thể trị lành những thứ bệnh ấy là: Áo mặc bằng giẻ rách, có thể trị được bịnh ác dục của Tỳ-kheo về áo mặc; Đi khất thực, có thể trị được bịnh ác dục về tham ăn; Ngủ dưới gốc cây, có thể trị được bịnh ác dục về đồ ngủ ; Thân tâm vắng lặng, có thể trị được bịnh ác dục về của đời của Tỳ-kheo.
Do bốn vị thuốc nầy chữa được bốn chứng bệnh kia, nên gọi là Thánh-hạnh. Như thế mới gọi là thu thiểu dục tri-túc.
Người thiểu dục chẳng tìm cầu, chẳng tham lấy. Người tri-túc, khi được ít, tâm vẫn thản-nhiên, không chút hối-hận.
Kinh Niết-Bàn

Hỡi các Tỳ-kheo ! Nếu muốn giải thoát các điều khổ não, nên quán tri-túc. Pháp tri-túc, tức là chỗ giàu vui yên ổn vậy. Người tri-túc, tuy nằm trên đất, vẫn được an vui; Người bất tri-túc, dù ở trên thiên đường, cũng chẳng vừa ý.
Người bất tri-túc, tuy giàu mà nghèo; Người tri-túc tuy nghèo mà giàu. Người bất tri-túc, thường bị năm dục lôi cuốn, làm cho người tri-túc động lòng thương xót, ấy là tri-túc.
Kinh Di-Giáo

Trong lúc tìm cầu giàu sang, rất khổ, đã được rồi giữ cũng khổ, về sau bị mất lo rầu lại càng khổ hơn. Xét trong ba thời đều không có vui.
Kinh Bách Duyên

Không luận kẻ sang người hèn, kẻ nghèo người giàu, lớn nhỏ trai gái, đều chung lo tiền của, trăm nghĩ ngàn lo, sai khiến lương tâm không lúc yên nghỉ. Có ruộng lo ruộng, có nhà lo nhà; Có trâu ngựa lục-súc, tôi tớ tiền của, áo cơm đồ vật, thảy đều lo cả.

Càng lo nghĩ lại càng sầu khổ. Hoặc có khi bị tai-nạn phi-thường như nước lửa trộm cướp, cháy, trôi, dựt lấy đi mất, lại càng lo khổ hơn nữa, rồi lại bo bo không lúc nào giải thoát; giận hờn kết chặt nơi lòng, phiền não không thể bỏ.

Nhưng khi thân mạng chết, thì bỏ lại cho đời chỉ một mình mình đi, chẳng đem thứ gì theo được! Sang trọng giàu mạnh, không ai không có các thứ lo khổ này.
Kinh Vô-Lượng-Thọ

Ông Cấp-Cô trưởng giả hỏi Phật rằng: thưa Thế-Tôn: Thế gian hành nghiệp sanh sống có bao nhiêu thứ? Phật đáp: kể có 10 thứ:
1) Phi-pháp vô-đạo mà cầu tài, dù được không thể tự an-dưỡng, không thể an-dưỡng cha mẹ, vợ con, tôi tớ và cúng dường Sa-môn.
2) Phi-pháp vô đạo mà cầu tài, được tài, tự an-dưỡng, an dưỡng cha mẹ, vợ con, tôi tớ mà chẳng cúng dường Sa-môn
3) Phi-pháp vô-đạo cầu tài, được tài tự an-dưỡng, an dưỡng cha mẹ, vợ con, tôi tớ cúng dường Sa-môn.
4) Đúng pháp và phi pháp cầu tài, được tài, chẳng tự an-dưỡng, chẳng an dưỡng cha mẹ, vợ con, tôi tớ cũng chẳng cúng dường Sa-môn.
5) Đúng pháp và phi pháp cầu tài, tự an-dưỡng, an dưỡng cha mẹ, vợ con, tôi tớ mà chẳng cúng dường Sa-môn.
6) Đúng pháp và phi pháp cầu tài, được tài tự có thể tự an-dưỡng, an dưỡng cha mẹ, vợ con, tôi tớ và cúng dường Sa-môn.
7) Đúng pháp cầu tài, chẳng tự an-dưỡng, chẳng an dưỡng cha mẹ, vợ con, tôi tớ cũng chẳng cúng dường Sa-môn.
8) Đúng pháp cầu tài tự an-dưỡng, an dưỡng cha mẹ, vợ con, tôi tớ mà chẳng cúng dường Sa-môn.
9) Đúng pháp cầu tài, tự an-dưỡng, an dưỡng cha mẹ, vợ con, tôi tớ và cúng dường Sa-môn.
10) Đúng pháp cầu tài, tự an-dưỡng, được an dưỡng cha mẹ, vợ con, tôi tớ và cúng dường Sa-môn. Đối với của cải không đắm nhiễm, không bị ràng buộc. Thấy kẻ bị tai họa bố thí chẳng tiếc lẫn.
Trong 10 hạng hành nhơn, hạng sau cùng là cao thượng hơn hết vậy.
Kinh Trung A-Hàm

Phật dạy: Cầu tài có 6 món phi-đạo:
1) đánh bạc cầu tài lợi là phi-đạo
2) Phi-thời cầu tài lợi là phi-đạo
3) Uống rượu buông lung cầu tài lợi là phi-đạo
4) Gần gũi với bạn ác mà cầu tài lợi là phi-đạo
5) Vì vui đàn hát cầu tài lợi là phi-đạo
6) Biếng nhác cầu tài lợi là phi-đạo
Kinh Trung A-Hàm

Trong việc bảo hộ tài sản cho người sẽ bị nguy hiểm bởi 4 điều: Bốn điều nguy hiểm đó là:
1) Vua chúa nước ngoài
2) Giặc cướp
3) Nạn lửa cháy
4) Nạn nước trôi
Kinh Tăng nhứt A-Hàm (văn Ba-lị)


H. – RƯỢU CÓ NHIỀU LỖI(104-107)

Rượu là gốc của các điều ác vậy. Nếu ai có thể dứt trừ được thì xa lìa các tội lỗi.
Kinh Niết-Bàn

Uống rượu, làm khổ não chúng sanh nên gọi nó là nhơn gây tội. Nếu người khi uống rượu thời các cửa bất thiện mở ra, vì có thể hại các thiện pháp, như lập vườn cây trái, mà không làm rào giậu.
Luận Thành-Thật

Nếu tự tay mình bưng rượu cho người uống, vì khiến người uống rượu, cho nên bị tội không tay năm trăm đời, huống chi mình uống, chẳng nên dạy khiến tất cả người và chúng sanh uống rượu, huống chi mình uống?
Kinh Phạm Võng

Phàm người uống rượu có 6 điều lỗi:
1) Mất của
2) Sanh bệnh
3) Đánh lộn
4) Tiếng xấu đồn khắp
5) Sanh sân si dữ tợn
6) Trí huệ ngày càng mòn mõi
Kinh Trung A-Hàm

Đức Phật dạy: Với người thế gian ưa uống rượu say thì bị 36 tội lỗi. Những lỗi gì đến 36?
1) Người uống rượu say, con chẳng kính cha. Tôi chẳng kính vua; Vua tôi cha con không còn kẻ trên người dưới.
2) Nói năng bị nhiều sai lầm.
3) Say thời nói nhiều lời, nói đâm thọc hai bên
4) Nói phô những việc tư riêng cần dấu kín của mình và người.
5) Say thì mắng trời chửi đất chẳng biết kiêng cử
6) Say thì nằm giữa đường không thể về nhà, mà có cầm giữ vật thì quên mất.
7) Say thì đi đứng không chính được
8) Say thì khi ngước khi cúi chân đi hoành hanh, hoặc sa hầm hố
9) Say thì té rồi đứng dậy thân thể bị thương
10) Có mua, bán bị lầm lộn, hay ưa đụng chạm bậy bạ
11) Say thì bỏ phế công việc làm ăn chẳng lo sanh sống.
12) Đã có bao nhiêu của cải tiêu hao hết
13) Say thì chẳng nghĩ việc đói lạnh của vợ con gia đình
14) Say thì la mắng bất kể, chẳng sợ pháp luật.
15) Say là cởi áo tuột quần trần truồng mà chạy
16) Say thì đi bậy vào nhà người, lôi kéo vợ con người ta, nói năng bậy bạ tội lỗi không thể tả được .
17) Say thì gây lỗi với láng giềng, rồi muốn đánh lộn.
18) Say thì nhào lộn kêu la làm kinh động làng xóm
19) Say thì giết quấy gà heo
20) Say thì đập đánh phá tan nát đồ đạt trong nhà
21) Say thì coi rẻ người nhà như kẻ tù tội, ăn nói ngang ngược
22) Làm bạn với phường ác nhơn.
23) Say thì xa bỏ bực Hiền-thiện
24) Khi tỉnh say thân thể như đau bệnh
25) Say thì mửa ọi ra những thứ dễ gớm, vợ con thấy ghét gớm chẳng ngó.
26) Say thì ý muốn chạy nhảy, găp phải voi cọp cũng chẳng sợ tránh.
27) Say thì chẳng kính kinh sách Thánh hiền, chẳng kính Đạo sĩ Sa-môn gì cả
28) Say thì dâm lung tung chẳng biết kiêng nể
29) Say thì như người điên, người ta thấy tránh chạy hết
30) Say như người chết chẳng còn biết gì cả
31) Say hoặc bị ghẻ mặt, hoặc bị bệnh rượu mặt mày vàng bóng
32) Thiên-long quỷ thần đều cho rượu là ác
33) Những kẻ thân-hậu trí-thức ngày càng xa dần
34) Ngồi chồm hổm mà đưa mắt xem kẻ quan-lại
35) Sau khi chết, phải vào địa-ngục thái-sơn, thường nuốt nước đồng lỏng, cháy ruột, chảy xuống lổ đít, cứ như vậy cầu sống cũng khó mà cầu chết cũng khó, chịu ngàn vạn năm như vậy.
36) Khi từ địa ngục ra, được sanh làm người ngu si chẳng biết gì cả.
Nay ta thấy có những người ngu si không hiểu biết gì hết, là chính bởi bị quả báo đời trước ưa uống rượu gây nên vậy. Như vậy rất rõ ràng. Rượu cũng đáng cho người ta cẩn thận chứ !
Kinh Phân Biệt Thiện Ác Sơ Khởi

Chẳng đặng uống, nếm, ngửi rượu. Từ nay về sau, kẻ nào tôn ta làm thầy, tuy ít cho đến một chút xíu rượu dính trên đầu cọng cỏ cũng chẳng nên nhỏ vào miệng.
Kinh Sa-Di-Ni Giới

(còn tiếp)
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
I.– ĐIỀU HÒA BỐN ĐẠI (108-113)

Phật dạy các Tỳ-kheo, đi bộ có 5 công đức. Những gì là 5?
1) Chạy giỏi
2) Có sức mạnh
3) Trừ ngủ
4) Ăn uống dễ tiêu mà chẳg sanh bệnh
5) Làm cho người tu dễ được định ý, làm cho được định ý là lâu lắm.

Các Tỳ-kheo! thường ngày phải rưới nước và quét trong nhà; trong nhà nếu có mùi hôi thời xoa bột hương; nếu còn hôi thời lấy hương treo bốn góc vách trong nhà.
Luật Tứ Phần

Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng: cất nhà tắm có 5 món công đức:
1) ngăn gió
2) lành bệnh
3) trừ sạch đất nhơ,
4) thân thể nhẹ nhàng
5) được mập trắng
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Mai, chiều phải súc miệng; phương pháp súc miệng là đổ nước vào miệng rồi ba phen trộn trạo, gọi là pháp tịnh khẩu.
Những người miệng hôi, phải nhăm nhánh dương-chi. Nhăm dương-chi có 5 sự lợi ích
1) miệng chẳng đắng
2) chẳng hôi miệng
3) trừ gió
4) đề phòng bệnh nóng
5) trừ đàm nhớt
Nhăm xong, lấy nước rửa rồi vất đi.
Luật Thập Tụng

Phật dạy: Này các đệ tử ! Đầu tóc dài, móng tay dài, áo quần dơ, chẳng biết phải lúc nói năng nhiều; gọi là năm món hủy nhục pháp của Tỳ-kheo vậy.
Tất cả Đạo, tuc bảy chúng, khi dùng nước uống phải lọc; lọc xong người có con mắt tỏ xem thấy chỉ tay trong bàn tay là dùng được.
Luật Tăng Kỳ

Nước để cách đêm, xem thấy có sanh vi trùng, nếu chẳng lọc, thì đừng uống.
Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ

Người vì lúc ăn quá no nên thân thể nặng nề sanh biếng nhác, mất lợi ích lớn cửa đời nầy và đời sau; ngủ mê tự chịu khổ, lại làm phiền người khác và mê muội khó thức dậy, cho nên phải biết thời và độ lượng mà ăn vừa thôi.
Kinh Ni-Kiền-Tử

Nếu ăn no quá thì hơi thở gấp, thân đầy trăm đường mạch máu chẳng điều hòa, tâm bị ngăn ngại, ngồi nằm không yên. Trái lại ăn giảm ít, thời thân thể ốm, tâm bị treo ý nghĩ ngợi không được bền.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Với tất cả chỗ mà đại, tiểu, bậy bạ, thì đọa vào địa ngục bạt ba 500 đời. Hai mươi tiểu kiếp, phải tay ôm chổ đất đại tiểu tiện thúi hôi cho đến chết.
Kinh Ưu Bát Kỳ Vương

Chẳng nên hỉ, khạc trước chỗ đông người. Muốn hỉ khạc phải đến chỗ khuất, đừng cho người ta nhờm gớm.
Kinh Tỳ-Ni-Mẫu

Muốn cất cầu tiêu, không nên cất ở phía Đông, mà phải đặt ở phía Bắc; còn đường gió phải khai về hướng Nam, hoặc Tây Đông. Người đi cầu, chẳng nên lặng thinh mà vào, phải gõ cửa rồi mới vào. Nếu bên trong có người phải trả lời bằng cách gõ lại.
Nếu muốn khạc nơi đất phải để cái bình một chổ, để vào trong bình ít đất cát hoặc vôi, rồi mới khạc trong bình, phải thường thường đem đổ, đừng cho sanh mùi hôi. Lấy nước sạch rửa bình cho sạch, úp xuống phơi khô rồi mới dùng lại.
Luật Tăng Kỳ

Người bị đau có 10 nguyên nhân:
1) Ngồi lâu mà chẳng nằm
2) Ăn không tiêu
3) Lo sầu
4) Quá mệt
5) Dâm lung
6) Giận dữ
7) Đến lúc đại tiện mà nhịn không đi
8) Đến lúc tiểu tiện mà nhịn không đi
9) Ngăn hơi ợ
10) Ngăn hơi thoát ở hậu môn
Kinh Y (Kinh Trị Bịnh)

Thân người do bốn đại hòa hợp mà thành, bốn đại này là đất, nước, gió, lửa, một môn chẳng điều hòa là một trăm bệnh sanh ra, mà cả bốn môn chẳng đĩều hòa là là bốn trăm bốn bệnh đồng thời phát sanh.
Kinh Ngũ-Vương

Có chúng sanh bị bệnh vì không uống thuốc men và không có người chăm sóc mà phải chết, gọi là hoạnh tử, và phạm pháp luật phải tội xử-tử, gọi là hoạnh tử. Lại say mê săn bắn, buông lung, dâm đãng , nhậu rượu say sưa, vô độ mà bị hại gọi là hoạnh tử. Lại nữa, bị nước trôi, lửa cháy, cũng là hoạnh tử. Kế nữa, bị sư-tử, hổ lang, độc trùng, ác thú mà chết cũng gọi là hoạnh tử. Lại nữa bị đói khát mà chết cũng là hoạnh tử. Thêm nữa bị thuốc độc hay bùa chú ếm đối mà chết cũng là hoạnh tử. Và nhào đầu xuống gộp đá mà chết cũng là hoạnh tử.
Kinh Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện

Chúng sanh bị chết ngang có 9 nguyên nhơn:
1) Khi ăn những món chẳng nên ăn
2) Ăn uống không độ lượng
3) Chẳng biết mùa Đông muà Hè, hay khi nước khác chẳng biết phong tục mà ăn những mòn không tiêu
4) Những món ăn trước ăn chưa tiêu mà ăn thêm vào nữa, và chẳng uống thuốc.
5) Đến khi đại tiểu tiện mà chẳng chịu đi
6) Khi chẳng giữ ngủ giới
7) Khi gần gũi kẻ ác
8) Khi đi vào núi rừng sâu thẳm, hoặc đển chỗ đấu tranh
9) Khi những nơi chỗ đáng tránh mà chẳng tránh
Nếu ai tránh được 9 nguyên nhơn nầy thì được hai phước báo: một là sống lâu, hai là vì nhờ sống lâu nên được nghe chánh pháp mà tu hành
Kinh Cửu Hoạnh

Người bệnh mà trọn đủ 9 điều sau đây chắc sẽ chết ngay:
1) Biết món ăn không lợi mà vẫn ăn
2) chẳng biết độ lượng
3) Đồ ăn cơm còn nằm trong chưa tiêu mà nuốt thêm vào
4) Ăn chưa tiêu mà hộc mửa ra
5) Đã tiêu, dáng lẽ cho nó ra mà cố giữ lại
6) Ăn chẳng tùy theo bệnh
7) Ăn tùy theo bệnh mà chẳng độ lượng
8) Tâm thường trể nãi
9) Không có trí huệ, ấy vậy.
Luật Tăng Kỳ
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
CHƯƠNG III
LỢI THA
A- BIẾT ƠN TRẢ ƠN (114-116)


Đức Phật bảo các ông trưởng-giả Diệu Đức, Dũng Mãnh, Thiện-Pháp ở trong thành Vương Xá-rằng: Này các trưởng-giả! Ta sắp nói pháp mầu nhiệm, vì muốn lợi ích cho những ai chưa biết ơn đức trong đời vị lại. Ơn trong thế gian và xuất thế gian có 4 thứ:
1) Ơn cha mẹ.
2) Ơn chúng sanh
3) Ơn quốc vương
4) Ơn Tam bảo
Bốn ơn nầy tất cả chúng sanh, bình đẳng cõng đội.
Kinh Tâm-Địa Quán

Người nào biết ơn, tuy còn ở trong sanh tử mà căn lành chẳng hư. Kẻ cũng biết ơn, căn lành diệt mất. Vậy nên các Đức Phật khen ngợi những người biết ơn trả ơn.
Kinh Đại Phương Quảng Bất Tư-Nghì Cảnh Giới

Bấy giờ đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng: Nếu có chúng sanh nào biết trả ơn, người ấy đáng kính. Ơn nhỏ còn chẳng quên, huống chi ơn lớn. Kẻ ấy dầu cách đây trăm ngàn do-tuần, cũng chẳng khác gì gần bên ta, ta thường khen ngợi. Trái lại có chúng sanh chẳng biết trả ơn, ơn lớn còn chẳng nhớ huống chi là ơn nhỏ; dầu có gần ta, ta cũng chẳng gần, dầu cho mặc áo Tăng ở hai bên tả, hữu gần ta đi nữa, người ấy vẫn như xa ta.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Người biết ơn phát tâm vô-thượng chánh đẳng chánh giác, người trả ơn cũng sẽ dạy chúng sanh phát tâm vô-thượng chánh-đẳng chánh giác
Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân

Nếu có ai hỏi rằng: ai là người biết ơn và có thẻ đã trả ơn? Nên đáp ngay với họ rằng: Đức Phật là người biết ơn và đã trả ơn vậy. Vì sao thế? Vì tất cả trong thế gian người biết ơn và đã trả ơn, không ai hơn Phật vậy.
Kinh Bát Nhã

Chẳng nghe vị Địa-thần đã nói sao? “Ta, chở cõi đại- địa có tất cả sự vật và sức nặng của núi Tu-Di nữa mà ta chẳng nhàm chán nhưng đối với 3 hạng người ta thường ngán lắm:
1) Kẻ ôm tâm phản nghịch muốn mưu hại vị nhơn-vương
2) Kẻ bỏ ơn tôn thân bất hiếu với cha mẹ
3) Kẻ bác bỏ không cho có nhơn quả, hủy báng Tam-bảo, phá pháp-luân Tăng, trở ngại người làm lành. những người như vậy trong một giây lát ta cũng không muốn chở họ.”
Kinh Hoa Nghiêm

B– VUA – TÔI – CHỦ – TỚ (117-128)

Làm vua tri hòa là khôn khéo dạy khiến bề tôi. Cha dạy con, anh dạy em, chồng dạy vợ, nhà cửa trong ngoài thân thuộc bằng hữu dạy bảo lẫn nhau, phải đạo làm lành, phụng kinh trì giới, mỗi người giữ lấy trên dưới kính nhau, không luận sang hèn trai gái tu giới thanh tịnh thảy đều vui vẻ; phải lẽ hòa thuận. Vui vẻ hiếu hiền, cùng nhau răn dạy.
Kinh Đại-A-Di-Đà

Nước không vua, như thân không đầu, khó mà sống lâu
Kinh Tự-Ái

Ơn của Quốc Vương là kẻ phước đức cao cả hơn hết, tuy cũng là người sanh ở nhơn gian mà được tự tại, nên các vị Thiên tử ở cõi trời ba mươi ba thường giúp sức ủng hộ vậy. Với cả cõi nước sơn hà đại địa và cả ngàn mé biển cả, đều thuộc Quốc Vương, phước đức cao hơn tất cả phước của chúng sanh. Vậy nên vị Đại thánh vương, lấy chánh pháp mà trị hòa, có thể khiến chúng sanh đều được an vui; Ví như các tòa cung điện, cây cột là cội gốc; nhơn dân no ấm, vua là cội gốc, vì là của vua vậy.

Quốc Vương , nếu chẳng lấy chánh pháp mà trị hòa để làm chỗ nương nhờ cho nhân dân. Nếu lấy chánh pháp mà trị hòa thời những kẻ xâm lăng ở ngoài nước, những kẻ phản nghịch ở trong nước, và những ác quỷ, đói khát cùng những khủng bố mưa gió, bất thời không thể có được.
Quốc Vương xem nhơn dân như con, ngày đểm chẳng rời lòng lo ủng hộ, thì ơn ủng hộ ấy đáng gọi là lớn vậy.
Vị Quốc Vương có 10 đức:
1) Soi tỏ: lấy mắt trí huệ soi khắp thế gian vậy.
2) Trang nghiêm: lấy đại phước trí trang nghiêm nước vậy.
3) Ban vui: lấy đại an lạdc cho nhơn dân vui vậy
4) Dẹp oán: hàng phục tất cả oán địch vậy.
5) Lìa sợ: có thể đẩy lui các tai nạn, hết khủng bố vậy.
6) Dùng người hiền: là tập trung các bực Hièn sĩ cùng giúp việc nước vậy.
7) Đặt pháp luật: là nhơân dân ở yên trong cõi nước vậy
8) Trị an: là lấy chánh pháp duy trì thế gian vậy.
9) Nghiệp chủ: là các sự nghiệp đều thuộc Quốc Vương vậy.
10) Nhơn chủ: tất cả nhơn dân lấy vua làm chủ vậy.
Tất cả các vị Quốc Vương đều nhờ phước đời trước mới được trọn nên 10 món phước đức thù thắng như vậy.
Nếu có nhân dân nào siêng tu lòng lành, để giúp rập cho vị vua có nhơn đức, tôn trọng như Phật, ấy đời hiện này an ổn giàu vui. Cầu muốn việc chi đều được vừa lòng là nhờ ơn đức của Thánh-vương rộng lớn như vậy.
Kinh Tâm-Địa Quán

Vua như cha mẹ, thương mến bình đẳng người dân như con, trọn bề trung hiếu
Kinh Phật Vị Thắng Quang Thiên Tử thuyết đương Pháp
Vua lấy lòng lành xem tất cả nhơn dân đã như con, thời tất cả nhơn dân đối với nhà vua như cha mẹ.
Kinh Thắng Quân Vương Sở Vấn

Dân láy vua làm mạng, vua lấy Pháp làm thân. Thế đạo được hòa bình. Phật pháp bắt đầu từ đấy.
Trong nước có vua được mọi sự yên ổn; Vậy nên nhà vua phải lấy sự an vui của tất cả chúng sanh m làm gốc.
những kẻ xuất gia tại gia thành tâm tu đạo đều nhờ chánh quốc được duy trì, và diễn hóa khắp nơi. Nếu nhà vua bất lực, công hạnh chẳng thành, chánh pháp bị diệt mất, thời còn đâu giúp ích? Vậy nên tu tất cả công đức, một trong sáu phần thuộ về nhà vua, cầu nguyển cho nhà vua được phước như quả núi bền vững khó mà sụp đổ.
Kinh Hoa Nghiêm

Vua Nghiêm-Xi hỏi Ni-kiền-tử rằng: “Các ông vua sao gọi là vua?” Đáp rằng: “Này Đại Vương! Vua là cha mẹ của nhơn dân vậy. Hay y Pháp mà nhiệp hộ chúng sanh được an vui vậy, nên gọi là vua. Đại Vương nên biết, vua mà nuôi dân như mẹ nuôi con đỏ, dời khô bỏ ướt,không đợi nó đòi. (khi mẹ con cùng ngủ, con đái, dời con đến chổ khô, mẹ nằm chổ ướt) tại sao? Đại Vương phải biết, ngôi vua mà được bền vững lấy dân làm cõi nước. Lòng dân chẳng an, nước sẽ nguy vậy. Vậy nên làm vua, thường phải thương dân, nghĩ đến dân, như mẹ nghĩ niệm đến đứa con đỏ, lòng chẳng lúc nào rời bỏ được. Phải biết việc vui, khổ của người dân rong nước, tùy thời mà thi hành: biết mùa lụt, mùa hạn, biết khi gió khi mưa, biết lúc được mùa mất mùa, biết khi no khi đói, biết có biết không, biết kẻ buồn người vui, biết kẻ già người trẻ, kẻ bệnh người mạnh, biết đứa ngục tù, người kiện tụng, biết kẻ có tội, người không tội, biết tội nhẹ tội nặng.

Nếu đối với các bậc Vương-tử, đại thần, bách quan, biết kẻ nào có công người nào không công, v.v… biết như vậy gọi là bất ly tâm.
Đại Vương ! Phải biết, nhà vua với trong nước thì biết như vậy rồi, dùng thế lực mà ủng hộ. Kẻ đáng thưởng phải thưởng kịp thời, kẻ đáng phạt phải cân nhắc cho kỷ lưỡng. những kẻ quan lại cũng phải biết thời, chẳng nên cướp đoạt quyền lợi của dân; nghiêm cấm tham lam bạo ngược. người dân được yên vui, ấy là nhiếp hộ. Mới đáng gọi là vua”.
Vua lại hỏi nữa rằng: “ Lấy những pháp gì gọi là Vương-luân,, khiến các Tiểu-vương nương nơi luận pháp kia mà trị nước an dân, gọi là như pháp có thể nhiếp hộ chúng sanh ? ”
Ngài Ni-kiền-tử đáp: “Đại –vương! bỏ các tâm điên đảo tham lam, bỏ các tâm điên đảo giận dữ, bỏ các tâm điên đảo ngu si rồi: y đối trị, y thiệt thế, y sai biệt, y lợi ích. Y đối trị và thiệt thế là pháp bị đối trị vậy; có chổ gọi nó là cội gốc bất tham, bất sân và bất si. Làm sao có thể phát khởi được pháp bị trị và hay trị? : pháp bị-trị ấy là tâm buông lung và tâm vô từ. Còn pháp hay-trị là nhà vua phải tu pháp hạnh có tâm chẳng buông lung, và tâm đại từ bi, nhận biết thân mạng và sự vật giúp sống đều là vô thường, tự quan sát bản thân thấy các tội lỗi hiểu biết đúng sự thật mà thọ dụng các vật cần thiết giúp cho sự sống.
Nhà vua tu pháp hạnh tuy được tự tại tự do nhưng chẳng nên làm những điều phi pháp; được như vậy gọi là tâm chẳng buông lung.
Đại vương ! Phải biết y cứ theo phép vương luận, thì chẳng nên được của, có được cũng chẳng nên lấy, tuy là được của hợp lý mà phi thời cũng chẳng nên lấy. Nếu y theo thời tiết được của hợp lý đối với kẻ nghèo cùng khốn khổ cũng chẳng nên lấy. Đến như những nạn gươm giáo, nạn giặc giã, nạn phản nghịch, nạn hai nhau; lúc có những nạn như thế thời nhà vua nên khởi từ tâm chẳng sợ nguy hiểm đến bản thân mà hộ các chúng sanh.
Với kẻ nghèo cùng cho họ cơm áo. Với kẻ bạo ác, dạy họ pháp lành, ấy gọi là từ tâm.
Đại vương ! Phải biết ; y cứ theo hai pháp nấy, mới gọi là nhà vua tu pháp hạnh, chính là để hộ trì cho chúng sanh, là có tâm bất phóng dật, tâm đại từ bị vậy.”
Kinh Ni-Kiền-Tử

Vua hỏi Đại sư rằng: “Vua tu pháp hạnh đã có tâm từ bi, làm sao có thể trị những chúng sanh còn ác?”
Đáp rằng: “Nhà vua tu pháp hạnh nếu cần trị chúng sanh làm ác trước phải khởi từ tâm lấy trí huệ xem xét và suy nghĩ 5 pháp, nhiên hậu mới trị. Những gì là 5?
1) Y sự thật, chớ nên y bất thật
2) Y theo thời, chẳng nên y bất thời
3) Y nghĩa, chẳng nên y vô nghĩa
4) Dùng lời mềm dịu, chớ nên dùng lời xẳng xóm
5) Y từ tâm, chớ nên y sân tâm mà trị.”

Nhà vua hỏi thêm Ngài Ni-kiền-tử rằng: “Vua tu pháp hạnh làm sao trị những chúng sanh khởi nghịch?”
Đáp rằng: “Này Đại Vương! Nhà Vua tu pháp hạnh, trước lấy điều lành mà dạy, đúng như pháp mà chỉ vẽ, nếu nghe theo mệnh lệnh mà bỏ nghịch-tâm, xin lỗi xin tội với vua, thời Vua đại ân xá, tha thứ trọng tội, cho an trí ở một nơi nào trong nước mà chẳng nên diệt mạng, chẳng đoạt của và cũng chẳng cần đuổi ra khỏi nước. Vì sao thế? Vì muốn khiến Vua biết có 3 điều: 1) có đức tin; 2) có ơn; 3) có đại lực. để khiến cho những kẻ chưa hàng-phục phải hàng-phục; Kẻ đã hàng phục chẳng dám tái phạm kẻ muốn phản nghịch chẳng dám manh khởi.
Đại Vương phải biết những kẻ có tội mà được khỏi tội lại được phục chức vị cũ thời nhơn dân được yên ổn vậy. những nhà Vua đúng như pháp mà trị-hóa thời được phước vô-lượng, tiếng tăm đồn khắp. Nếu kẻ bị tội được mệnh lệnh Vua mà chẳng chịu phục tội thời phải trị cho xứng đáng, nhưng đừng giết chết hay làm tổn hại thân thể mà chỉ nên tịch thu tài sản và đày ra khỏi nước, để làm gương cho kẻ khác chẳng dám khởi nghịch tâm mà thôi.
Đại Vương phải biết ! Như vậy là Vua tu pháp-hạnh mà trị tội những kẻ khởi nghịch.
Kinh Ni-Kiền-Tử

Nếu có Vị Hiền-Vương sáng sớm dậy trước vào Đạo tràng, kính lễ Thánh Hiền cầu nguyện phúc lành, cúng lạy tổ tông, trả đền ân đức; dạy dân hiếu kính thầm ích cho muôn dân.
Xong rồi mới lâm Triều cùng với các Đại thần mà lo việc nước, và phê chuẩn, xong hai việc nầy rồi mới dùng bữa. Dùng bữa xong mới đi tắm rửa, và dạo chơi hoa viên.

Đến buổi chiều, bày hội đàm luận ở Vương cung, mời các Vi Sa-Môn, Bà-la-môn có Đại trí huệ trong nước đén diễn thuyết Chánh pháp cho vua nghe, và Vua hỏi han các điều thiện ác, chánh tà và việc gì đáng làm, việc gì chẳng đáng làm. Rồi mới triệu tập cac Vị Cựu Thần có tài đức, và những kẻ ẩn dật có kiến thức cao xa, nhà Vua dọ hỏi việc quốc chánh để cho họ bình luận việc đắc việc thất. Như vậy là Vua tự tỉnh-thức, phước đức của Vua càng tăng thêm rồi mới hàng phục các nước láng giềng, được bầy tôi tôn kính, trong ngoài một lòng.
Kinh Hoa Nghiêm

Hễ lên ngôi quốc-vương phải tu 5 điều:
1) Lãnh trị muôn dân không có oan uổng, nhũng lạm.
2) Nuôi dưỡng tướng sĩ, tùy thời thăng thưởng
3) Tu-niệm pháp lành, phước đức nối luôn
4) Phải tin những lời can gián của bậc trung thần chánh trực, đừng nghe kẻ sàm nịnh mà thương tổn đến bậc chánh-trực quốc sĩ.
5) Phải tiết độ việc tham dục, tâm chẳng buông lung

Tu năm điều này tiếng thơm khắp bốn biẻn, phước lộc tự đến. Trái lại chẳng tu năm điều này thời các pháp-luật chẳng thi hành được, nhơn dân nghèo cùng mư loạn, tất nhiên tướng sĩ phải mệt nhọc thế lực suy yếu; bấy giờ các Vị phước-thần không ủng hộ, bởi Vua mà hỏng việc lớn; Các bực trung thần chẳng can gián; Tâm nhà Vua càng buông lung, việc nước phế bỏ, thời nhơn dân lắm điều oán thán.
Kinh Pháp-Cú

Đức Phật nói: Ngày xưa nước Ca-thi có ông Vua tàn ác, làm những điều phi pháp khiến trăm họ khốn khổ. Bấy giờ có Vị Hiền-giả muốn can gián nhà Vua bằng cách dạy chim anh-võ nói rằng: “Làm Vua mà có bảy điều phi-pháp thời thân Vua nguy vậy :
1) Ssy mê nữ sắc, chẳng kính bậc nhơn chánh
2) Say rượu, chẳng thương quốc dân
3) Tham cờ bạc, chẳng tu lễ kính
4) Săn bắn sát sanh, không lòng từ bi
5) Ưa nói lời dữ, chẳng nói lời lành
6) Nặng sưu dịch, lại thêm hình phạt biếm trích
7) Cướp đoạt của dân chẳng nhằm nghĩa lý

Bảy điều phi-pháp này là nước nguy vậy. Nếu Vua chẳng trừ bỏ các phi-pháp nói trên thời trong một mai chiều sẽ khuynh-quốc, bại thân.

Là kẻ làm Vua, cả nước đều nhờ, như chiếc cầu, muôn người nhờ qua lại; như cái cân, đối với kẻ than người sơ đều công bình; Như mặt trời, soi khắp thế gian; như mặt trăng, cho muôn vật mát mẻ; như cha mẹ, ơn lành nuôi dưỡng thương mến; như trời h khắp tất cả; như đất chở nuôi muôn vật; như đốt từ ác hoạn và như nước thấm nhuần muôn dân.
Như Vị Chuyển-luân-Vương trong đời quá khứ, lấy mười điều lành mà dạy dân.”

Nhà Vua nghe chim anh-võ nói như trên, rất hổ trẽn, về sau tu chánh hạnh. Do đó mà chánh giáo được thịnh hành trong nước. Và cũng nhờ đó mà tiếng xấu tiêu diệt, từ đây trở đi bà phu-nhơnvà các bề tôi đều trung thành cung kính nhà Vua, muôn dân đều vui mưùng.
Kinh Tạp Bảo Tạng

Chủ nhà xem sóc tôi tớ có 5 điều:
1) Phải thường cấp cho cơm áo, mền mùng
2) Đau ốm phải mời Thầy thuốc trị chữa
3) Chẳng nên đánh đập quấy quá
4) Nó có của riêng chẳng nên cướp lấy
5) Khi phân chia vật gì phải bình đẳng

Tôi tớ đối với chủ cũng có 5 điều:
1) Phải dậy sớm, đừng để chủ nhà gọi
2) Việc nên làm tự động làm ngay
3) Phải yêu tiếc vật của chủ
4) Khi chủ đi, về phải lo đưa, đón
5) Phải khen ngợi điều hay của chủ, chẳng nên nói việc xấu
Kinh Lục Phương Lễ

Chủ nhà đối với những kẻ tôi tớ giúp việc: Sai khiến cho vừa sức; thường cho cơm áo; cho vật ngon; ban lời dạy; khi đau ốm cho nghỉ việc. Ấy là năm điều mà chủ nhà cần có vậy.

Làm khéo, làm khéo mà nên việc, biết phục thiện, tối đến ngủ, sáng dậy sớm, học tập, làm việc siêng, chủ nhà nghèo cũng đừng khinh, những lúc thiếu thốn, cũng chẳng bỏ nhau, và đi ra khỏi cửa thời khen ngợi chủ nhà. Ấy là 10 điều mà kẻ tôi tớ cần phải có. Chủ tớ được như vậy thế thời việc lành chẳng suy bại.
Kinh Thiện Sanh Tử

(còn tiếp)
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
C –KHEN NGỢI HIẾU LÀNH (129-135)

Điều lành cao tột chẳng gì bằng Hiếu. Điều cực ác là bất hiếu vậy.
Kinh Nhẫn Nhục

Đống ngọc báu cao từ dưới đất lên đến cõi trời 28, lấy đem bố thí cho người được phước báo chẳng bằng cúng dường cha mẹ.
Kinh Mạt-La-Mạt

Thờ cúng trời đất quỷ thần chẳng bằng hiếu thảo với cha mẹ, cha mẹ là hai Vi Thần sống cao tột vậy.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương

Gặp đời không có Phật, nếu biết khéo phụng sự cha mẹ tức là phụng sự Phật vậy.
Kinh Đại Tập

Quả báo công đức thỏa thuận cúng dường cha mẹ ngang với công đức của Vị Bồ-tát nhứt sanh bổ xứ vậy.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Đức Phật nói: chẳng những ngày nay Ta mới khen ngợi hạnh từ-hiếu mà trong vô lượng kiếp về trước Ta cũng đã khen ngợi nhiều rồi!
Kinh Tập Bảo Tạng

Nương nhờ ơn nuôi dưỡng của hai Vị Từ-Phụ và Bi-mẫu cho nên tất cả các con trai gái đều được an vui. Thế là ơn cha cao như núi Chúa, ơn mẹ sâu như bể cả.
Kinh Tâm-Địa Quán

Dù cho có người một vai cõng cha, một vai cõng mẹ, đến trọn đời mà chẳng phút xa lìa, va cung cấp áo cơm thuốc men, các món cần dùng. Như thế cũng chưa có thể gọi là đã trả xong ơn sâu nặng với cha mẹ.
Kinh Bổn-Sự

Cha mẹ với con có 5 điều: 1) Khiến con bỏ ác làm lành. 2) Lấy sách vở dạy cho con. 3) Cho con trì kinh giới. 4) Cưới vợ cho con. 5) Gia-tài phải để lại cho con hết.
Kinh Lục Phương Lễ

Phật nói: on cha mẹ thương con, Ta ở đời này lâu đến một kiếp nói cũng khó hét. Ta nay chỉ nói một phần ít thôi. Này ông Trưởng-giả: nếu có người giàu có mời một trăm Thầy Bà-la-môn tịnh-hạnh, một trăm vị Thần-tiên và 100 người bè bạn đến vào trong ngôi nhà làm bằng bảy thứ ngọc sang trọng mà bày tiệc cúng dường đầy đủ trăm ngàn món ăn ngon tột bực, nơi phòng nghỉ, treo chuỗi anh-lạc và dùng các giường mùng, mền gối và trăm thứ ngọc báu để trang hoàng; lại dùng thứ thuốc bạch-dược để trị bịnh. Nuôi như thế mãn trăm ngàn kiếp mà chẳng bằng phát khởi một niệm lòng hiếu thuận dùng chút ít vật chất cúng dường cha mẹ và theo bên hầu hạ.

Bà mẹ hiền thương con, thật không biết lấy vật gì để so sánh cho cân xứng vậy. Từ khi con vào thai, trải qua thời gian mười tháng những lúc mẹ đi, đứng, ngồi, nằm chịu trăm điêu khổ não mà miệng mẹ không thể nói ra. muốn những đồ uống ăn hay áo mặc, dù có được mẹ cũng chẳng mừng vì lòng lo lắng không khi nào dứt, chỉ lo nghĩ đứa con sắp sanh sao cho hoàn hảo là hơn thôi. Nếu khi đẻ khó thời như trăm ngàn mũi dao đồng thời đâm cắt, toàn thân; nếu khi sanh đẻ được an lành, bà mẹ với các thân thuộc cùng chung vui sướng in như kẻ nghèo được ngọc báu; sự đau khổ trong mười tháng của mẹ do một tiếng khóc đầu tiên của đứa con khi mới lọt lòng mà nổi khổ ấy mẹ liền quên mất và vui sướng như nghe âm nhạc. Con lấy nơi bụng ngực của mẹ làm chổ ngũ, lấy hai cổ vế là chỗ dạo chơi và do nước giếng cam-lồ nơi ngực mẹ chảy ra mà nuôi lớn. Ôi ! ơn đức của mẹ núi cao biển sâu cũng chẳng thể sánh kịp. Nếu đứa con nào biết tùy thuận nghe theo những lời dạy bảo của từ-mẫu mà không trái nghịch thời được các chư thiên hộ niệm, phước đức vô cùng. Nếu có kẻ trai lành gái thiện nào muốn trả ơn cha mẹ, trải qua thời gian một kiei61p, cứ mỗi ngày ba làn từ cắt thịt nơi thân đem nuôi cha mẹ cũng chưa có thể gọi là đã trả ơn được một ngày vậy.
Kinh Tâm-Địa Quán

Người trong thế gian ai giàu hơn hết ai nghèo hơn hết? Bi-mẫu sống còn gọi là giàu có; Bi-mẫu qua đời gọi là nghèo khổ. Khi còn bi-mẫu gọi mặt trời trưa; bi-mẫu qua đời gọi mặt trời lặn. Khi còn bi-mẫu, gọi đêm trăng sáng, bi-mẫu qua đời là đêm không trăng. Vậy nên các người siêng năng tu tập hiếu thuận nuôi dưỡng hai đấng Từ thân. Những người như vậy, được phước ngang như phước cúng chư Phật không chút hơn kém.
Kinh Tâm-Địa Quán

Phàm là con thảo phải lấy 5 việc kính thuận cha mẹ. Những gì là 5?
1) Cúng dường đầy đủ đừng để thiếu thốn
2) Phàm làm việc gì, phải trước thưa cha mẹ
3) cha mẹ có làm, kính thuận chẳng nghịch
4) Chánh lịnh cha mẹ, chẳng dám chống trái
5) Cha mẹ có tâm, chánh nghiệp chẳng dứt.
Kinh Trường A Hàm

Con thờ cha mẹ phải có 5 điều:
1) Phải lo sanh kế
2) Dậy sớm sai khiến tôi tớ lo làm cơm nước cho kịp thời;
3) Chẳng nên làm cha mẹ lo thêm
4) Phải nhơ ơn cha mẹ
5) Khi cha mẹ có bệnh, phải lo sợ liền mời thầy chửa thuốc kịp thời
Kinh Lục Phương Lễ

Đạo làm con đối với cha mẹ có 5 việc:
1) Lo gia sự
2) Lo trả nợ nần
3) Phải hiểu lời dạy;
4) Cúng dường
5) Làm sao cho cha mẹ vui
Kinh Thiện Sanh Tử

Cung phụng đồ ăn uống và châu báu chưa thể trả được ơn cha mẹ. Hướng dẫn cha mẹ xoay về chánh pháp mới là báo hiếu.
Kinh Bất Tư Nghì Quang

Nếu cha mẹ không tin, khuyên phát khởi lòng tin; nếu chưa có giới pháp, khuyên thọ trì giới pháp; nếu tánh tình bủn xỉn, khuyên tu hạnh bố thí; nếu không trí huệ, khiến tu trí huệ. Làm con được như thế, mới được gọi là trả ơn.
Luật Tỳ-Na-Da

bấy giờ đức Thế Tôn bảo Ưu-bà-Di rằng: Ngày trước Ta đi xuất gia, Ta có tâu thề với Phụ-vương ta rằng, khi nào chứng được Phật đạo sẽ trở về độ cha mẹ. Thế là nay Ta đã chứng được Phật đạo và công đức thành tựu quyết phải trở về nước, chẳng dám trái lời tâm hứa ngày trước.
Kinh Phổ Diệu

Khi vua Tịnh-Phạn lâm bệnh nặng, Ngài nghĩ muốn thấy mặt các con một lần chót.
bấy giờ Đức Phật ở tại thành Vương-xá cách chừng năm mươi do tuần. Phật mới bảo A-Nan, Nan-Đà và La-Vân liền dùng thần túc mà về vương cung. Rồi Ngài phóng hào quang sáng rực soi khắp thân Phụ-vương thì bịnh tình được thuyên giảm chPút ít; và Ngài lại lấy tay rờ trên trán Phụ-vương mà an ủi rằng: Phụ vương là người tu tịnh giới, đã diệt sạch tâm phiền não cấu nhiễm; nay hụ-vương nên vui mừng và nghĩ nớ lời kinh-pháp

Đức Phụ-vương nghe nằm chắp tay đem tâm mà kính lễ ! Liền lát sau Ngài thăng hà. Các Thịch-tộc và triều đình lo việc tẩn liệm vào quan tài và đem quan tài tôn trí trên tòa sư tử.

Đức Phật và ngài Nan-Đà nghiêm chỉnh đứng trước linh xa; ngài A-Nan và La-Vân đứng sau linh xa. A-Nan quì thưa Phật rằng: cho tôi xin gánh quan tài Bá phụ; La-Vân cũng xin với Phật cho mình gánh quan tài ông nội. Đức Thế Tôn nói lời an ủi: con người sau nầy đều là hung bạo, bất hiếu chẳng biết trả ơn dưỡng dục của cha mẹ. Ta vì chúng sanh bất hiếu ấy mà bày ra phương pháp để giáo hóa. Rồi Như Lai đích thân gánh quan tài Phụ-vương và tự tay bưng lư hương đứng trước mà đi đến nơi Lăng mộ !

Đức Như Lai kiếp trước ở trong sanh-tử, thời gian như vậy nhiều như số vi-trần không thể nghĩ bàn được, và trong hinh loại tất cả chúng sanh chịu đủ mọi thân hình. Vị chịu nhiều thân hình nên tất cả chúng sanh đã từng làm cha mẹ đức Như Lai, và Như Lai cũng đã từng làm cha mẹ tất cả chúng sanh. Vì từng làm cha mẹ tất cả chúng sanh nên thưòng tu những khổ hạnh khó tu, hay bỏ những vật khó bỏ. Siêng tu tinh tấn, trì giới, bố-thí, đa văn, thiền-định, trí huệ cho đến đầy đủ tất cả muôn hạnh, chẳng nghỉ chẳng thôi, tâm không mệt mỏi. Vì hiếu dưỡng cha mẹ, biết ơn trả đức nên ngày nay được chóng thành tựu quả vô-thượng chánh đẳng chánh giác.
Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân

Phật bảo A-Nan rằng: Đời trước, khi Ta làm con là nhơn-hiếu; khi làm vua là từ-dục; khi làm dân là kính phụng. Do đó mà tự gây nên Đấng cao cả trong ba cõi
Kinh Viêm-Tử

(còn tiếp)
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
Đ –ĐẠO THẦY TRÒ (p.136-143)

Kẻ Thiện-tri-thức nói lời đúng pháp, đúng như lời nói mà làm. Thế nào mới gọi là đúng pháp và đúng như lời nói mà làm? Nghĩa là tự mình chẳng sát sanh, chẳng dạy người khác sát, cho đến tự mình tu chánh kiến và dạy người cũng tu chánh kiến; nếu ai được như vậy, mới được gọi là chơn chánh Thiện-tri-thức. Lại nữa tự tu Đạo Bồ Đề và dạy người cũng tu Bồ Đề, vì nghĩa ấy nên gọi là Thiện-tri-thức. hoặc là tự có thể tu hạnh tín, giới, bố-thí, đa văn, trí-huệ, vì những lẽ đó mà gọi là Thiện-tri-thức. Kẻ Thiện-tri-thức cần phải có pháp lành. Pháp lành gì? Là việc mình làm tự chẳng cầu vui cho mình mà thường vì cầu vui cho chúng sanh. Khi thấy người có lỗi mình chẳng nên nói iđều dở mà thường nói điều trọn lành. Bởi những nghĩa đó nên gọi là Thiện-tri-thức.
Kinh Niết-Bàn

Nếu ai gần gủi Ác-trí-thức, đời nầy chẳng được tiếng tăm tốt, bởi vì gần gủi bạn bè ấu, đòi sau sẽ đọa ngục A Tỳ. Ai mà gần gủi Thiện-tri-thức hiện tại dầu chẳng được chúng lợi thế gian, đời sau sẽ được hết nhân khổ.
Kinh Phật Bổn-Hạnh

Cần cầu kẻ Thiện-tri-thức, thân tâm đừng sanh mệt mỏi, thấy Thiện-tri-thức đừng sanh lòng nhàm chán; học hỏi với Thiện-tri-thức, đừng sợ khó nhọc; gần gủi Thiện-tri-thức đừng thối lui; cúng dường Thiện-tri-thức đừng cho gián đoạn; tùy thuận theo lời dạy dỗ của Thiện-tri-thức mà đừng chống trái; những công đức của Thiện-tri-thức diễn nói phải quyết định mở cửa lòng xuất-ly mà nghe; nhận thấy Thiện-tri-thức tùy thuận theo hạnh phiền não, đừng sanh lòng hiềm quái. Đối với Thiện-tri-thức phải lòng tin vững chắc đừng biến đổi. Tại sao? Vì Bồ-tát nhờ Thiện-tri-thức mà được học hỏi các hạnh Bồ-tát. Do đó mới được thành tựu tất cả công đức của Bồ-tát và được xuất sanh Đại nguyện cùng là trí huệ quang minh rực rỡ. Và cũng nhờ đó mới được dẫn phát thiện căn Bồ-tát và chứng được Đạo quả Như Lai bồ đề, để nhiếp lấy hạnh mầu nhiệm và sức tự tại cùng là xuất sanh sức đại từ đại bi của Bồ-tát vậy.

Nầy Thiện nam tử! Bồ-tát nhờ sự giúp đở của Thiện-tri-thức mà chẳng sa đọa ác thú; nương nhờ sự thành tựu của Thiện-tri-thức mà được tự tại thọ sanh; nương nhờ sức mạnh của Thiện-tri-thức mà phá tan nghiệp báo; nhờ mặc áo giáp nhẫn nhục của Thiện-tri-thức mà chẳng bị một lời nói xấu ác; và nương nhờ sự sanh trưởng của Thiện-tri-thức mà tiêu diệt được các tội lỗi kiêu mạn vậy.
Kinh Hoa Nghiêm

Đức Phật dạy: kẻ nào biết ơn Thầy, khi có thầy thì lo phụng sự; khi vắng thầy thời lo suy nghĩ, những lời thầy đã dạy bảo; giống như kẻ hiếu tử nghĩ nhớ cha mẹ, và như người đời khác nhớ nghĩ eđ6én việc uống ăn.
Kinh Trung Tâm

Là kẻ sư trưởng cần lấy 5 điều mà đối xử với đệ tử;
1) Tùy thuận theo phép điều ngự
2) Dạy những điều mà trò chưa biết
3) Tùy theo sự nghe biết của trò mà khiến cho hiểu thấu căn lành
4) Chỉ kẻ hiền lành cho trò kết bạn
5) Đem hết chổ hiẻu biết của mình mà dạy trao cho trò, không nên lẫn tiếc
Kinh Trường A Hàm

Thầy dạy đệ tử có 5 điều:
1) Khiến trò mau hiểu
2) Dạy trò giỏi hơn đệ tử của kẻ khác
3) Phải dạy trò biết rồi nhớ mãi chẳng quên
4) Phải dạy nói các điều nghi-nan cho trò hiểu rõ
5) Muốn khiến trí huệ của trò cao hơn mình
Kinh Lục Phương Lễ

Hay khiến học hay dạy bảo, khiến học siêng năng, đem về đạo lành, cho trò làm với kẻ hiền hữu. Ấy là 5 điều mà thầy đối với trò vậy.
Kinh Thiện Sanh Tử

Đệ tử kính phụng sư trưởng cũng có 5 điều:
1) Kính mến là khó gặp
2) Phải nhớ ơn thầy
3) Nghe theo lới dạy
4) Nghĩ nhớ chẳng nhàm
5) Khi đi theo sau hầu hạ phải khen ngợi điều hay của người.
Kinh Lục Phương Lễ

Lóng nghe cho chắc, ưa học hỏi, siêng làm việc, không phạm lỗi, cúng dường thầy. Ấy là 5 điều đệ tử thờ thầy vậy.
Kinh Thiện Sanh Tử

Phàm là kẻ đệ tử, mỗi khi thấy thầy tức thì đứng dậy.
Luật Căn bổn Tỳ Na Da

Đệ tử theo thầy đi, chân chẳng nên đạp nơi bóng thầy.
Kinh Sa Di Giới Luật

Đệ tử, khi tham học với thầy phải tránh 6 chổ:
1) chẳng nên đứng trước mặt
2) chẳng nên đứng sau lưng
3) chẳng nên đứng quá xa
4) chẳng nên đứng quá gần
5) chẳng nên đúng chổ cao hơn chổ thầy
6) chẳng nên đứng hướng trên gió
Luật Thiện Kiến Tỳ Bà Ta

Phật dạy: Đứa ác muốn hại kẻ hiền, như ngửa miệng lên trời khạc nhổ, khạc chẳng đến mà rơi lại nơi mình. Lại như kẻ đứng đầu gió lấy chân quấy bụi, bụi chẳng đến người mà đã dơ thân mình. Người hiền không thể hủy hoại lại việc mình.
Có người nghe Phật giử đạo, tu đại nhơn từ, họ cố ý đến mắng Phật, Phật làm thinh, không phản ứng. Họ mắng đã rồi thôi.
Phật hỏi: người đem lễ vật cho người ta, người ta không nhận lể vật ấy, trở về ngươi chớ sao?
người kia đáp: Phải. Phật nói: khi nãy ngươi mắng ta mà ta không nhận, ngươi tự đem họa ấy về ni nơi thân người; giống như vang ứng theo tiếng, bóng hiện theo hình, quyết không sai một mảy. Ngươi cẩn thận chớ làm ác.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương
A-Nan thưa Phật rằng: Người đời và đệ tử Phật khinh rẻ bực Thầy và họ đem ác tâm đến bực Thầy và người đạo đức thì tội ấy thế nào?
Phật bảo A-Nan rằng: là con người thời phải ưa mến đức của người khác và vui mừng điều lành của họ, chẳng nên ganh tị. Còn như đem ác tâm đến bậc Thầy và người đạo đức thì cũng như đem ác tâm đến Phật không khác chi cả. Vì phỏng đem cái cung nặng một vạn tạ bắn vào thân mình chừng có đau hay không? A-Nan thưa: Thật đau lắm, đau lắm. Phật nói: người có ác ý đem đến người đạo đức cùng là bậc Thầy hãy còn đau hơn gấp mấy lần cái mũi tên kia bắn vào thân mình.
Là kẻ đệ tử chẳng nên khinh dễ bực Thầy và đem ác ý đến kẻ đạo đức. Người có đạo đức phải xem họ như Phật chớ chẳng nên ganh tị hủy báng. Người có giới đức cảm động đến các thiên long quỷ thần, không một vị nào chẳng cung kính.
Thà lao mình vào đống lửa, cẩn thận chớ nên ganh tị và hủy báng kẻ thiện nhơn, tội ấy chẳng phải nhỏ nhen cho nên phải cẩn thận lắm.
Kinh A-Nan Vấn Sự Phật Cát Hung

Đệ tử có 5 việc mới nên quở mắng:
1) bất tin, 2) biếng nhác, 3) ác khẩu, 4) tâm không biết xấu hổ, 5) gần gủi ác trí thức
Phật nói chỉ phạm một trong 5 món vừa kể trên cũng nên quở mắng.

Có Tỳ-kheo thưa Phật rằng: quở mắng cách nào? Phật đáp: có 5 pháp:
1) Chẳng nói năng với hắn
2) Chẳng dạy trao gì hết
3) Cho thọ dụng chẳng đồng đều
4) Chẳng dạy cho việc lành
5) Chẳng cho ở chung một nhà.

Trong 5 pháp này, tùy theo trường hợp mà dạy quở
Luật Hữu Bộ Căn Bổn Tỳ Nại Da

A-Nan thưa Phật rằng: bực Thầy có quyền la mắng đệ tử, tội nhỏ cho là to, chừng như thầy có lỗi hay không ?
Phật đáp: không nên, không nên ! đạo nghĩa thầy trò phải lấy đạo cảm hóa tự nhiên, phải cùng nhau có lòng tin cậy thân hậu; xem trò như mình, việc chi mình chẳng muốn làm, đừng trách sao trò không làm. Phải lấy đạo đức rộng dạy: kính trọng, lể phép cho trò, phải thuận hòa trung tiết, không nên đem lòng oán trách kiện cáo cùng nhau. Kẻ đệ tử cùng thầy hai bên đều chân thành: bực Thầy cho ra bực Thầy, kẻ làm trò đáng kẻ làm trò thì mới được.
Kinh A-Nan Vấn Phật Sự Cát Hung

(còn tiếp)
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
E –BẰNG HỮU THIỆN ÁC ( 144- 152)

Đức Thế Tôn với ngài Trưởng lảo Nan-Đà cùng nhau đi vào trong thành Ca-tỳ-la-bà- tô. Đi đến gần một nhà buôn cà. Phật bảo Nan-Đà rằng: ngươi vào trong nhà buôn cá kia xin lấy một nắm cỏ chanh mà họ thường ủ trên cá chết.
Nan-Đà vâng lời làm theo. Rồi Đức Phật bảo Nan-Đà cầm theo một lát rồi sẽ vất nó đi. Nan-Đà y lời cầm đi theo một đỗi rồi mới vất xuống đất.
bấy giờ Đức Phật bảo Nan-Đà: ngươi ngửi tay ngươi coi có nghe mùi chi không ? Nan-Đà thưa: dạ có mùi bất tịnh hôi tanh. Phật liền dạy Nan-Đà rằng: thiệt đúng vậy đó. nếu người nào gần gủi với bọn ác trí thức giao kết làm bè bạn trong chừng giây lát thời ác nghiệp nhiễm thành thói quen, tiếng xấu người ấy bị đồn khắp.
***
Đức Thế Tôn lại cùng với trưởng lảo Nan-Đà đi gần đến nhà làm nhang, ngài bảo Nan-Đà : Ngươi vào nhà kia xin một bao nhang đem đây. Nan-Đà vâng lời vào nhà xin lấy một chiếc bì họ đã đựng nhang cầm ra. Phật bảo: ngươi cầm một lát rồi sẽ vất nó đi, Nan-Đà y lời cầm một lát vất xuống đất.
bấy giờ Phật mới bảo Nan-Đà : ngươi tự ngửi tay ngươi coi có nghe mùi chi chăng? Nan-Đà thưa rằng: Dạ thưa Thế Tôn ! tay con có mùi thơm ngạt ngào thật không thể tả được. Đức Phật bảo; Thật vậy: nếu ai gần gủi với kẻ Thiện-tri-thức thường tự tùy thuận thấm nhuần đạo đức của họ thời được tiếng tăm tốt đẹp.
Kinh Phật Bổn Hạnh

Chổ đất có miếng giấy cũ, Phật bảo Tỳ-kheo lại nhặt. Tỳ-kheo vâng lời lại nhặt lấy. Phật hỏi miếng giấy chi vậy? Dạ thưa miếng giấy bao hương, tuy bị bỏ đã lâu mà mùi hương vẫn còn thơm.
Thầy trò đi một đỗi nữa, lại gặp một khúc dây. Phật bảo Tỳ-kheo lại nhặt rồi Phật hỏi dây chi đó? Dạ thưa dây chi không biết mà người ta dùng buộc cá, nên có mùi tanh hôi.
Phật nói: hai vật ấy trước kia sạch sẽ chẳng có mùi gì mà vì nhơn duyên nên mới có thơm, thúi khác nhau. Gần kẻ hiền minh thời hấp thụ được nhiều đạo nghĩa, mà bạn với đứa ngu ám thời tai họa chất đến thân. cũng in như hai vật giấy và dây kia đựng hương thời thơm mà buộc cá thời hôi; nó thấm nhiễm dần dần mà tự nó nào có hay biết.
Kinh Pháp-Cú Thí Dụ.

Phật dạy: này Thiện sanh! Làm bạn với đứa trộm, có 4 điều ác: tham của người khác; cho ít trông nhiều, vì sợ nên học tập, vì lời nên học tập.
Bạn với đứa vọng ngữ, cũng có 4 điều: bầy tỏ việc riêng của người, việc riêng của mình giấu mất, trước mặt khen hay, sau lưng chê dở.
Bạn với đứa tin tà giáo cũng có 4 điều: nó dạy mình sát sanh, dạy ăn trộm, dạy tà dâm và dạy mình dối trá
Trái lại bạn với kẻ đồng tâm, khi khổ vui có mặt với nhau, có 4 điều lành; họ cho mình của báu, cho điều lợi, cho của nhà sẳn có, cho lời nói trung thật.
Bạn với kẻ siêng năng sự nghiệp cũng có 4 điều lành: lấy lợi làm sự nghiệp, lấy sức mạnh làm sự nghiệp, hoặc mình có buông lung thì họ can gián, và lấy điều lành làm sự nghiệp.
Và lại bạn với kẻ nhơn từ cũng có 4 điều lành; Được họ khuyên dạy thành tín, thành giới, thành văn và thành thí.
Kinh Thiện Sanh Tử

Phật dạy: ác trí thức có 4 bọn:
1) Bên trong ôm oán tâm, mà bên ngoài gắng gượng làm ra vẻ bạn tri-thức ]
2) Trước mặt nói tốt mà trong sau lưng nói xấu
3) Lúc mình có việc gấp, đối trước mặt làm bộ sầu khổ mà sau lưng thì vui mừng
4) Bề ngoài giả làm như thân hậu mà bề trong toan mưu gây oán.

Thiện-tri-thức cũng có 4 thứ:
1) Bề ngoài hình như không tốt, mà bên trong có ý tốt
2) Thẳng thắn can gián ngay trước mắt mà sau lưng thì vẫn nói điều tốt của bạn
3) Những khi đau ốm, hoặc bị huyện quan đòi hỏi, hay phải đi chinh chiến thời lo lắng tìm hết cách che chở, giải cứu.
4) Thấy kẻ nghèo cùng không nỡ bỏ qua, thường nghĩ tìm phương tiện khiến cho được giàu có.

Ác trí thức cũng có 4 thứ:
1) Khó can gián hiếu dụ khiến họ làm lành vì họ cố ý lân la với kẻ ác.
2) Muốn khiến họ đừng bè bạn với kẻ rượu mà họ cố ý lân la với bợm nghiện rượu
3) Muốn khiến họ tự giữ mình, nhưng họ lại càng sanh đa sự
4) Muốn khiến họ làm bạn với kẻ hiền, mà họ cố ý với kẻ ác

Thiện-tri-thức cũng có 4 thứ:
1) Thấy kẻ nghèo cùng quẩn bách, khiến cho họ có phương sanh kế.
2) Không khi nào tranh cãi cùng nhau.
3) Thường hỏi thăm tin tức với nhau
4) Thường nghĩ nhớ nhau những lúc gặp gỡ.

Thiện-tri-thức cũng có 4 thứ nửa:
1) Bị quan nã bắt đem giấu kín thì tìm cách giải cứu
2) Khi bị đau ốm thì đến thăm viếng giúp đở
3) Khi bạn chết chóc đến xem sóc tẩn liệm
4) Bạn đã qua đời, về sau cứ nghĩ nhớ mãi !

Thiện-tri-thức lại có 4 điều:
1) Muốn đấu tranh là ngăn can ngay
2) Muốn làm bạn với ác trí thức là can gián liền
3) Chẳng muốn làm việc để sanh sống thì khuyên nhủ nên làm việc để sanh sống
4) Chẳng biết kinh giáo đạo lý thì dạy cho hiểu biết và sanh lòng tin vui mừng

Ác trí thức cũng có 4 bọn;
1) Bị thiệt chút ít quyền lợi là nổi sân to
2) Mình có việc gấp mượn nhờ thì đâu đó mà chẳng chịu đi
3) Thấy bạn có việc gấp liệu bề tránh mất
4) Thấy người bạn bị chết chóc bỏ lơ chẳng hề ngó tới

Đức Phật đạy: Nên chọn lựa bạn lành mà theo; mà kẻ ác nên tránh xa. Ta nhờ nương theo bạn lành nên mới được thành Phật.
Kinh Lục Phương Lễ

Đừng làm việc chung với kẻ ác trí thức và đứa ngu, mà phải giao kết với kẻ Thiện-tri-thức và người trí. Con người vốn không phải ác, nếu gần gủi kẻ ác, về sau thành người ác, thời tiếng xấu đồn khắp thiên hạ. Mà Thiện-tri-thức thì trái lại. Cho nên cần phải gần gủi.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Ông Bột (tiền thần Phật Thích Ca) nói rằng: bạn có 4 thứ cần phải biết : có thứ như hoa, có thứ như cân, có thứ như núi và có thứ như đất. Sau gọi như hoa? Là khi tươi đẹp lấy cắm trên đầu, lúc héo xấu thời vất bỏ; khi giàu sang thì phụ họa mà lúc nghèo hèn thì bỏ lơ, ấy là bạn như hoa. Sao gọi như cân? Nghĩa là vật nặng, là thấp xuống mà vật nhẹ thời cao lên, ấy là bạn như cái cân. Sao gọi như núi ! Ví như loại chim thú tập trung đậu trên quả núi vàng thời lông vảy của chúng nó đều sáng vàng rực rỡ; nghĩa là mình được sang trọng cũng khiến cho bạn được vinh hiển, giàu sang chung cùng vui vẻ; ấy là bạn như núi. Sao gọi là bạn như đất? là trăm giống và của báu tất cả đều ban cấp cho bạn, thí cấp dưỡng hộ ân hậu rất đậm đà, ấy là bạn như đất vậy.
Kinh Bột
Vị đại Bồ-tát xem kẻ ác trí thức như con voi dữ hay loại ác thú không hơn không kém. Vì sao thế? Vì điều là loại hại thân thể vậy. Đại Bồ-tát đối với voi dữ hay thú dữ tâm không sợ hãi, chứ đối với ác trí thức tâm sanh khiếp sợ. Tại sao thế? Vì voi dữ hay thú dữ chỉ có thể hại thân mà không thể hại tâm, còn ác trí thức hại luôn cả thân tâm. Voi dữ hay thú dữ chỉ hại một thân chớ ác trí thức hại vô lượng thiện thân, vô lượng thiện tâm. Voi dữ hay thú dữ chỉ hại phá hại cái thân nhơ nhớp bất tịnh mà thôi, còn ác trí thức phá hoại tịnh thân lẫn tịnh tâm. Voi dữ hay thú dữ phá hoại thân xàc thịt còn ác trí thức phá hoại pháp thân. Bị voi dữ giết chẳng đọa ba ác đạo, mà bị ác trí thức giết quyết đọa ba ác đạo. Voi dữ hay thú dữ chỉ là kẻ oán của thân, còn ác trí thức là kẻ oán của thiện pháp.
Vậy nên Bồ-tát thường phải xa lìa bọn ác trí thức mới được.
Kinh Niết-Bàn

Tìm bè bạn khắp nơi, không được vừa ý mình, thôi gần gủi tâm ta, đừng bạn với kẻ ngu. Khắp nơi tìm bè bạn, không được vừa ý ta, thà khéo giữ tâm mình, chẳng làm bạn kẻ ác.
Luật Tứ Phần

Nếu ai gần gủi với bạn trí huệ và hiền lành thời có thể khiến cho nội tâm và ngoại thân đều được trong sạch. Thế mới gọi là bạn trượng phu chơn thiện.
Kinh Đại Trang Nghiêm

Bạn hiền là nền tảng của muôn phước; đời hiện tại nầy khỏi nạn lao ngục quan vua; sau khi chết đóng bít được cửa tam đồ ác đạo vậy. Có thể lên trời đắc Đạo, ấy là điều nhờ sức giúp đở của Hiền hữu vậy.
Kinh Hoan-Dự

Bạn lành đủ 7 pháp mới thành thân hữu:
1) Việc khó làm hay làm được
2) Cái khó cho hay cho được
3) Việc khó nhẫn hay nhẫn được
4) Việc kín cho biết lẫn nhau
5) Che đậy lẫn nhau
6) Gặp khổ chẳng bỏ nhau
7) Nghèo hèn chẳng khinh bỏ nhau
Luật Tứ Phần

Bằng hữu có 3 yếu pháp:
1) Thấy có lỗi lầm thời hiểu dụ can gián cho nhau
2) Thấy có việc tốt thời hết lòng vui mừng
3) Bạn lâm nạn đang ơ trong cảnh nguy khốn cùng thời chẳng bỏ nhau.
Kinh Nhơn Quả

Bạn bè: chẳng nên nhơn một lời nói của kẻ khác mà liền bỏ nhau; khi nghe một lời nói của kẻ khác cần phải quan sát kỹ càng đã.
Luật Căn bổn Tỳ Na Da

Người đối với thân thuộc và bằng hữu phải có 5 điều:
1) Thấy họ làm những việc tội ác, đem nhau riêng chổ vắng vẻ mà can gián, hiêu dụ, quở trách và ngăn cản
2) Khi họ có chút việc gấp phải mau chạy đến cứu giúp
3) Có nói lời chi riêng với mình thời mình không nên nói lại với kẻ khác
4) Phải lễ kính lẫn nhau
5) Có vật gì quý nên biếu cho nhau ít nhiều để cùng hưởng cho vui

Bè đối với bạn: lấy chánh tâm mà kính nhau, đừng ôm lòng hờn giận, không nên có ý gì khác; biếu nhau vật quý, ân hậu đậm đà; ấy là 5 việc mà bè cần phải có.

Khiến họ về với mình, quở trách những điều kiêu ngạo, buông lung, che đậy việc riêng của họ, thường cúng dường và đem những lời nói tận tâm bảo cho nhau; ấy là 5 điều mà bạn cần phải có.

Việc giao tế của bè bạn được như thế, thời thiện pháp làm gì suy đồi được
Kinh Thiện-Sanh Tử
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
F. – ĐẠO VỢ CHỒNG (152-167)
Người thế gian: Cha con, chồng vợ, anh em, gia-thất, bà con nội ngoại phải kính mến nhau, đừng ganh ghét nhau, khi có khi không phải thông cảm nhau, không nên tham tiếc; lời nói, sắc mặt thường tỏ hòa thuận, đừng nên chống trái nhau.
Kinh Vô-Lượng-Thọ

Nếu người có thể giữ được lòng tin thời trong nhà an hòa, phước tự nhiên đến, chớ chẳng phải Thần Thánh nào trao cho vậy.
Kinh A-Nan Phân Biệt

Chồng đối với vợ có 5 điều:
1) Khi ra, vào phải kính mến
2) Cho uống ăn và sắm cho áo mền và đồ trang sức theo thời-đại
3) Phải sắm cho vàng bạc và chuỗi ngọc.
4) Trong nhà có bao nhiêu của cải giao hết cho vợ cất giữ.
5) Khi đi ra ngoài chẳng nên đem theo những đứa đĩ thõa.

Vợ thờ chồng có 5 điều:
1) Chồng đi về phải ra đón tiếp
2) Chồng đi vắng phải lo nấu nướng, quét dọn đợi chồng về.
3) Chẳng nên gọi tình với kẻ khác dù là tâm nghĩ, chồng mắng chửi chẳng đặng mắng lại và tỏ vẽ bất bình
4) Phải nghe lời dạy dỗ của chồng, có món gì chẳng đặng giấu riêng
5) Khi chồng ngủ nghĩ phải lo dọn cất rồi mới đi nằm.
Kinh Lục Phương Lễ

Là chồng phải lấy 5 điều nuôi, khiến vợ được an, năm điều là: Chánh tâm kính mến, ý chẳng hờn giận, không nên ngoại tình, thường cho ăn mặc, thường cho trang sức.

Khéo làm việc, khéo làm nên, vâng lời dạy bảo, dậy sớm, nghĩ tối, mọi việc phải bắt chước, đãi khách quân-tử, thưa hỏi khách quân-tử, vẻ mặt hòa nhã, lời nói thuận thõa, ghế, bàn, giường chiếu ngay thẳng, đồ uống ăn sạch sẽ, nghĩ việc bố-thí, cúng dường cho chồng. Mười bốn điều này là người vợ phải có. Chồng vợ hòa mục thời thiện pháp chẳng suy đồi.
Kinh Thiện-Sanh Tử

Người vợ trinh-tháo và hiền-lương lanh lợi là bậc mẫu nghi đủ bề khôn khéo nuôi con. Bầy con ấy quyết sẽ thành những bậc đại-nhân-vật.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm (văn Ba-lị)

Khi Đức Phật ở Tịnh xá Kỳ-Thọ, ông trưởng giả Cấp-Cô-Độc cưới dâu cho con. Người dâu đẹp đẽ đoan chánh vô song, nhưng phải tánh kiêu ngạo, khinh mạn chẳng vâng kính cha mẹ chồng và chồng. Bây giờ ông Trưởng-giả tự nghĩ: “Phải con dâu ngạo mạn làm sao mà dạy dỗ nó! Nếu đánh đập là chẳng phải điều lành, mà bỏ qua, chẳng dạy dỗ thời càng ngày nó càng thêm nhiều tội lỗi. Duy thỉnh Đức Phật nhờ Ngài dạy bảo giùm”. Sáng ngày ông đi đến Phật, thỉnh Phật về nhà nhờ giáo-hóa con dâu mới tên là Ngọc Da. Đức Phật đến nhà trưởng giả rồi Ngài bảo rằng: “Này Ngọc-Da nữ! Phàm làm đàn bà con gái đừng cậy sắc đẹp mà sanh lòng kiêu mạn, hình dung đoan-chánh đẹp đẽ chẳng phải thật đẹp đẽ mà tâm tánh đoan-chánh đẹp đẽ được người kính mến mới thật là đẹp đẽ chơn thật vậy”.

Phép làm đàn bà con gái có 5 điều:
1) Khuya mới ngủ, sớm lo dậy, để lo việc gia-sự, hoặc có món ngon vật lạ trước đem dâng lên cha mẹ và chồng.
2) Phải xem sóc và giữ gìn đồ đạt trong nhà.
3) Phải cẩn thận lời nói và nhẫn nại, có giận thì chút thôi.
4) Dè dặt cẩn thận, thường lo sợ việc mình không chu đáo thế.
5) Nhất tâm cung-kính phụng sự cha mẹ chồng và chồng và hết lòng hiếu thảo.

Lại nữa làm dâu có 5 phép:
1) Làm vợ như làm mẹ, mến chồng như mẹ thương con vậy.
2) Làm vợ như làm tôi, là thờ chồng như bề tôi thờ vua vậy.
3) Làm vợ như em gái, là thờ chồng như em gái thờ anh vậy.
4) Làm vợ như đày tớ, là thờ chồng như tớ gái vậy.
5) Làm vợ của chồng, là xem nhau đồng tâm hiệp ý, tuy hình thể khác nhau mà không sanh lòng kiêu mạn. Công việc trong, ngoài tốt đẹp, gia-đình giàu có; tiếp đãi tân khách tử-tế, tiếng tốt được đồn khen.

Trái lại làm dâu có 3 điều xấu:
1) Chưa tối mà đi ngủ, mặt trời mọc mà chưa dậy, đối với chồng giận dữ, trợn mắt, hiềm ghét, và mắng chửi.
2) Cơm ngon tự ăn, mà cơm dở đem dọn cho cha mẹ và chồng, trang điểm cho đẹp dối gạt.
3) Chẳng lo nghĩ việc sanh sống mà đi dạo xóm luận nói những chuyện xấu tốt, hay dở của người ta và hay cãi cọ, đánh lộn, ganh ghét dòng họ. Làm dâu như thế bị thiên hạ khinh dễ lắm”.
Nàng Ngọc-Da nghe Phật dạy một hồi mới sanh lòng xấu hổ mà thưa rằng: “Con thực ngu si quá, chẳng biết gì Chánh-pháp nên những việc con đã làm đều là sai quấy; nay con xin Ngài tha lỗi cho. Rồi nàng thọ Tam-Qui và Ngũ giới với Phật.
Kinh Ngọc-Da

Nước Câu-Lưu có người Bà-La-Môn tên Ma-Ha-Mật, nhà rất giàu có và trí huệ hơn người; ông ta làm quan đến chức Quốc-Sư. Nhưng bị lòng xan tham chẳng tin Phật pháp. Ông ta sinh hạ bảy đứa con gái, nhan sắc đẹp đẽ vô song, lại thêm nhà giàu có, ngọc vàng trang sức đầy đủ, trang nghiêm. Bấy giờ có ông bạn tên là Phân-nho-Đạt đến bảo Bà-La-Môn rằng: “Anh đem mấy đứa con gái của anh vào trong thành cho người xem; nếu có người chê xấu, thời anh đưa tôi năm trăm vàng, mà nếu không một ai chê xấu, thì tôi đền anh năm trăm vàng. Hai ông dẫn bảy đứa con gái đi dạo khắp trong nước, thời gian đến chín mươi ngày mà không một ai chê xấu nửa lời. Bây giờ hai ông nghe tin Đức Phật thuyết pháp tại Tịnh xá Kỳ Viên, liền rủ nhau dẫn đến nơi Phật mà thưa rằng: “Ngài hay dạo đi khắp các nước, Ngài đã từng thấy có những người con gái nào xinh đẹp như vậy không? Phật quở rằng: Mấy đứa gái này chẳng có chút gì đẹp cả”. Bà-la-môn nói: “Toàn quốc không một ai chê con tôi xấu mà sao Ngài lại chê nó xấu?”. Phật đáp: “Người đời họ xem cái đẹp của năm căn năm cảnh cho là đẹp, còn Ta cho là cái thân chẳng tham trơn láng, cái miệng chẳng nói lời ác, tâm ý chẳng nghĩ điều ác mới là đẹp vậy.
Kinh Thất-Nữ

Phật nói: Đàn bà có 5 thế lực: 1) Nhan sắc; 2) Thân tộc; 3) Đất ruộng; 4) Con trai; 5) Tự giữ mình. Mà khinh dễ người chồng. Nhưng người chồng chỉ có 1 thế lực giàu sang là có thể địch lại năm món kia.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Ông An-Na Phấn-Kỳ trưởng giả cưới vợ cho con, người dâu nhan sắc đẹp như sắc bông đào. Nàng là con gái của một Đại thần triều vua Ba-Tư Nặc; bởi vậy mà nàng ỷ thế nhà cha nên chẳng thèm cung kính cha mẹ và chồng, cũng không biết tin Tam-Bảo. Trưởng-giả đến nhờ Phật dạy bảo cho. Sáng ngày Phật đến nhà trưởng giả và bảo rằng: Này cô dâu mới ! Phép về làm vợ người có 4 việc:
1) Vợ như mẹ.
2) Vợ như bà con.
3) Vợ như kẻ thù.
4) Vợ như đầy tớ.
Làm vợ như mẹ là đối với chồng thừa sự cúng dường chẳng thiếu món gì cả. Vợ như người bà con là xem chồng không có tâm tăng giảm, phải khổ vui cùng hưởng. Còn làm vợ như kẻ địch là đối với chồng ôm lòng giận dữ ganh ghét, chẳng biết vâng thờ gì cả. Mà làm vợ như đứa tớ gái là người vợ hiền lương, với chồng nhẫn nhịn chẳng dám nói lời trả treo, thường có tấm lòng thương mến vậy. Người khéo thờ chồng khi chết sanh lên cõi Trời, mà tệ ác với chồng, chết đọa địa ngục. Nàng Thiện Sanh nử nghe Phật dạy rất xấu hổ và thưa rằng: "Thưa Thế Tôn! Con từ nay xin làm vợ như làm đứa tớ gái vậy". Và nàng quy y Tam Bảo làm Ưu Bà Di.
Kinh A-Na-Phấn Kỳ Hóa Thất Tử

Khi Đức Phật ở nước Xá Vệ bây giờ có nhà học vấn sâu rộng tên là Bà-Tư Nị-Ca, gia tư tại thôn Trưởng Đề cách thành Xá Vệ về phía tây hơn 20 dặm. Ông này có lòng thâm tín Phật giáo và sanh hạ được một cô gái đầu lòng tên Am-Đề-Giá, đã gả lấy chồng và đã theo chồng; nhưng có việc trở về nhà, vừa lúc Phật sắp đến nhà ông này và Ngài đã nhận lời mời bữa trước. Khi Phật đến, cả nhà đều ra nghinh tiếp, duy có cô Đề-Giá không ra rước vì đợi người chồng về. Một lát sau người chồng về cô rất vui mừng rồi hai vợ chồng cùng nhau ra lễ Phật. Đức Phật mới bảo với Ngài Xá Lợi Phất rằng: “Khi thầy trò mình đến cô này không ra vì chưa có mặt chồng, đợi khi chồng về hai người mới ra lễ. Thế là cô này đã hiểu lễ phép lắm vậy!
Kinh Sư-Tử Hầu-Liều Nghĩa

Ông A-Nan Phấn Kỳ Trưởng-giả ở thành Xá-Vệ kết bạn thâm giao với Ông Mãn Tài Trưởng-giả ở thành Mãn Phú. Nguyên do họ A có lập một sở nhà hành buôn bán lớn bên thành Mãn-Phú, thì ngược lại họ Mãn cũng có sở nhà hàng bên thành Xá-Vệ khuếch trương buôn bán tương đương và cũng vì thế mà việc giao hảo giữa hai Ông lại càng thân mật.
Họ A có một con gái út, họ Mãn muốn hỏi về làm dâu, nhưng họ A còn lưỡng lự chưa quyết, vì đôi bên khác tín-ngưỡng. Họ A nghĩ bụng: E việc này nên thưa Phật. Thì Phật bảo cứ gã cho họ đi. Thế là hai ông Trưởng-giả định ngày thành hôn. Đến ngày ấy cô út lo tắm rửa, xoa dầu thơm, và trang điểm vàng ngọc rồi lên xe hoa về nhà chồng, tức là nhà ông cha chồng Mãn Tài tại thành Mãn Phú.

Nhưng chiếu theo luật của Quốc-gia này thì không được cưới người nước ngoài về làm dâu, nếu ai phạm phải thì chịu phạt bằng cách cúng dường một bữa ăn cho sáu ngàn ông Phạm Chí Bà-la-môn. Vậy nên, cũng nhơn ngày rước dâu bày luôn tiệc phạt cúng dường cho sáu ngàn ông Phạm Chí. Các ông Phạm Chí để trần nửa cái thân mà đi vào nhà họ Mãn. Lúc các ông đến cửa thì Trưởng-giả bảo cô dâu mới ra lễ bái các Ngài. Cô dâu bất tuân lịnh cha chồng và nói: “Tôi không thể lễ những kẻ trần mình; Đức Phật Thầy tôi thường dạy chúng tôi rằng: Kẻ nào chẳng biết hổ trẽn là những kẻ chẳng biết phân biệt cha mẹ, an hem, tôn tộc và bà con dòng họ; các Ông Bà-la-môn kia là những kẻ không biết hổ trẽn nên tôi không muốn lạy. Khi ấy các Bà-la-môn nghe nổi sân si, bỏ tiệc ra về. Ông Mãn Tài rất buồn rầu, thường lên lầu cao nằm mà bực tức. Bây giờ có Ông Phạm Chí tên Tu-Bạt đến thăm thấy ông Mãn buồn phiền mới hỏi thì ông Mãn cho biết vì việc mới xảy ra. Ông Tu-Bạt nói: “Bậc thầy của cô dâu mới này oai đức cao cả lắm ông đừng buồn làm chi để tôi thuật chuyện chính tai nghe mắt thấy cho ông nghe: “Có một lần tôi đi đến ao A-Nậu, thần giữ ao không cho tôi vào, một lát sau tôi thấy có ông niên thiếu Tỳ-kheo đến thì Thần ao ra nghinh đón và mời ngồi trên một tòa bằng vàng mà lễ bái rất cung kính. Đó là đệ tử mà con như thế, huống chi bực Thầy… Ông Mãn nghe rất vui mừng và đòi cô dâu lên hỏi: Nay ta muốn mời thầy của ngươi về nhà cung phụng mà ta không hiểu phép thỉnh mời như thế nào, cha nhờ con thỉnh hộ. Nàng vâng lời và rất vui mừng. Tắm rửa sạch sẽ rồi thường lên lầu cao đốt hương hướng về hướng Phật làm lễ mà thỉnh cầu: Cúi xin đức Thế-Tôn chứng giám: Con nay về nước người hiện đang bị nạn; cúi xin Ngài đến cứu khổ.

Bấy giờ Phật dạy A-Nhã Câu-lân đi hầu tả, Xá-Lợi Phất đi hầu hữu, A-Nan mang bình bát đi hầu sau, và một ngàn hai trăm năm mươi vị đi chung quanh Ngài và thẳng đến nhà ông Trưởng-giả Mãn Tài. Đến cửa, Trưởng-giả và cô dâu ra lễ rước Phật cùng chư Tăng. Bây giờ sáu ngàn Phạm Chí thấy Phật vào nước mình và bảo với nhau rằng: “Nay Sa-môn Phật đã vào nước mình thì chúng mình không thể ở đây được nữa, nên bỏ xứ mà đi cho rồi, vì Phật đã hiện thần thông rất mầu nhiệm, chúng ta không thể bì kịp… rồi họ bỏ nước đi hết.

Đức Phật thuyết pháp cho gia đình ông Mãn và cả một số đông đảo nghe. Có người đã được tĩnh ngộ và đa số đều quy-y Tam-Bảo và thọ trì Ngũ-giới.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Vua Ưu-Đà-Diên nước Câu-Chiên-Di có hai bà phu nhân. Bà thứ nhất tên Xá-Ma, có lòng thâm tín Phật-Pháp, bà thứ hai tên Đế-Nữ tánh tình dua nịnh, thường đến chỗ vua mà sàm tấu và bài báng rằng bà phu-nhơn thứ nhất cùng với Phật làm việc phi-pháp, vua nghe thế nổ sân nộ dữ tợn liền lấy cung tên đem bắn bà phu-nhơn thứ nhất. Lúc ấy vì bà thương hại nhà vua nên bà liền vào Thiền-định Từ Ái. Vì thế mà tên bắn không trúng. Vua cả kinh hỏi bà tại sao? Hay người là Trời là Rồng gì chăng mà ta bắn không trúng? Bà đáp: “Tôi không phải là Trời là Rồng gì, mà tôi chỉ có lòng tin Phật được nghe Chánh-pháp và tôi tu-trì ngũ giới. Nay tôi vì lòng thương Đại-vương nên nhập Từ-ái Tam-muội Thiền-định dầu cho Đại-vương tuy có ác tâm cũng không thể hại được lòng từ-bi của tôi. Nhà vua nghe hết sức ăn năn đã tin lời sàm tấu của đệ Nhị phu nhân, và ông liền vội vã chạy đến chỗ Phật rồi tự thuật lại chuyện vừa xảy ra và cầu xin ăn năn sám hối. Rồi quy-y Tam-Bảo làm kẻ Ưu-Bà-Tắc.
Kinh Bảo Tích

Bà phu nhân cùng các Tì nữ của Đại Thọ Khẩn Na La thưa Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn chúng con đã phát tâm vô thượng đạo mà làm thế nào cho đạo tâm ấy mau thành tựu, cúi xin Ngài dũ lòng thương chỉ dạy cho”.
Đức Phật bảo phu nhân cùng các Tì nữ rằng: “Các ngươi đã phát tâm Bồ Đề rất thù thắng ở trong tam giới, trừ được phiền não tức chóng thành tựu quả Bồ Đề. Dưới đây có mấy điều các ngươi cần học tập:
1) Gần gũi với Phật.
2) Lìa kẻ tà kiếng quyết mau thành tựu Bồ Đề.

Lại nữa:
1) Giữ thân giới,
2) Giữ khẩu giới.
3) Giữ ý giới quyết mau thành tựu Bồ Đề.

Lại nữa:
1) Đem tâm vô vi tu bố thí.
2) Chẳng nên dối trá mà tu hạnh trì giới.
3) Đem tâm cung kính hướng về các bậc Thánh Hiền.
4) Nghe được Chánh pháp thành tựu Bồ Đề.

Lại nữa:
1) Chẳng tham ăn.
2) Chẳng tham yến ầm.
3) Chẳng tham kẻ trượng phu.
4) Chẳng tham đồ trang sức.
5) Chẳng tam đi du ngoạn.
6) Chẳng tham giỡn cười.
7) Chẳng tham kẻ ca nhạc sĩ, ca hát đánh nhạc.
8) Chẳng tham những kẻ nhảy múa, và giao hội rượu trà.
Thế là mau thành tựu bồ đề.

Lại nữa:
1) Chẳng nên nói ngã kiến.
2) Chẳng nên nói chúng sanh kiến
3) Chẳng nên nói thọ giá kiến.
4) Chẳng nên nói nhơn kiến
5) Chẳng nên nói đoạn vô kiến
6) Chẳng nên nói thường hữu kiến
7) Chẳng nên nói thấp trước hữu kiến
8) Chẳng nên nói chấp trước vô kiến
9) Phải khôn khéo hiểu pháp nhơn duyên sanh.
Thế là mau thành tựu bồ đề

Lại nữa:
1) Thương các chúng sanh.
2) Chẳng nên tham mến của người ta.
3) Chẳng nên nghĩ nhớ trai thanh niên con của người ta.
4) Giả sử có phải mất mạng cũng đừng nói dối.
5) Chẳng nên nói hai lưỡi.
6) Chẳng nên nói lời thô ác.
7) Chẳng nên nói thêu dệt.
8) Chẳng nên sanh khởi vô-minh phiền não
9) Chẳng nên khởi giận dữ.
10) Chẳng nên khởi ngu si.
Thế là mau thành tựu bồ đề.

Lại nữa: Thiện nữ nhơn! Nên quan sát ngũ uẩn pháp như sau: Quan sát sắc uẩn như bọt nước, chẳng nên tham tửu sắc. Quan sát thọ uẩn như bong bong nước, chẳng tham lạc thọ, chẳng bỏ rời khổ thọ, và đối với bất khổ bất lạc thọ, chẳng nên sanh ngu si. Quan sát tưởng uẩn như chớp sáng, chẳng nên khởi tưởng tượng phân biệt trai gái. Quan sát hành uẩn như cây chuối biết các hạnh chẳng chắc thiệt, chẳng nên chấp đắm các pháp. Quan sát thức uẩn như huyễn, đừng cho tâm thức đắm nhiễm các pháp.

Phu nhơn cùng các người! Cứ quan sát như vậy, và tu hành ngay đi, thời được nam thân mau được thành tựu quả Bồ đề.
Bấy giờ bà Phu nhơn và các kẻ dâm nữ của vua Đại thọ Khẩn Na La vui mừng nhảy nhót lễ Phật mà lui.
Kinh Đại Thọ Khẩn Na La Vương Sở Vấn

Bà Vô Cấu Quang nghe Đức Phật thuyết pháp, liền khi ấy phát tâm Bồ đề, đồng thời trong pháp hội cũng có 75 bà vợ của các ông cư sĩ cũng đồng phát tâm Bồ đề.

Bấy giờ ngài Xá Lợi Phật hỏi các bà kia rằng: “Chồng của các ngươi đã cho phép các người tu phạm hạnh nầy chưa?”. Các Bà đáp: “Chúng tôi đã từng hỏi chồng chúng tôi như thế nầy: “Chúng ta từ đâu đến đây và ngày mai sẽ đi đến xứ nào?” mà chồng chúng tôi không thể trả lời được. Cho nên chúng tôi tu phạm hạnh của chúng tôi chớ không cần hỏi ý kiến các ông ấy làm gì. Bởi vì nay chúng tôi được nghe Phật thuyết pháp; Phật là bậc cha mẹ, là Đấng Sở Tôn, là bậc Đại sư và là Đấng Phước Điền của chúng tôi vậy” Rồi các Bà làm lễ Phật.

Bấy giờ 75 ông chồng kéo đến thấy vợ mình đang làm lễ Phật, các ông trẻ lại chỗ ngài Xá Lợi Phất xin hỏi nguyên do. Xá Lợi Phật cho biết là các bà ấy đã lãnh thọ Phật pháp; từ nay các Bà tri cấm giới tu phạm hạnh, vì thế mà các Bà làm lễ Phật đó.

Bà Vô Cấu Quang về đến nhà mẹ bảo mẹ nên phát tâm vô thượng chánh đẳng tâm thời đó là con đã trả ơn cho mẹ rồi vậy. Bà mẹ nói với con rằng: Mẹ đã phát tâm từ lâu con không biết chớ khi mẹ mang thai con, mẹ không sanh khởi lòng xan tham, phá giới, giận dữ, biếng nhác, loạn niệm, ác huệ, tham tâm và ngu si, tà kiến. Mẹ thường vui mừng chánh pháp, cho nên thân tâm được an vui. Và thường chiêm bao thấy Phật và các đệ tử Phật đến thuyết pháp cho mẹ nghe.
Kinh Chuyển Nữ Thân
Hình đại diện của thành viên
Bài viết chưa xem Bởi Echo
G. –TỪ LÀ CỘI GỐC (168-177)
Những kẻ có căn lành, lòng từ là cội gốc.
Kinh Niết Bàn

Từ tâm tức là nhơn duyên của tất cả sự an vui. Rời từ bi thời chẳng còn có pháp lành.
Kinh Ưu Bà Tắc Giới

Bồ tát là nhà đại thí chủ, có bao nhiêu của cải bình đẳng thí cho chúng sanh mà không hối tiếc, chẳng mong quả báo, chẳng cầu danh vong, chẳng cầu sanh về chỗ hơn, chẳng cầu lợi dưỡng. Mà Bồ tát chỉ muốn cứu độ tất cả chúng sanh, muốn thu lấy lợi ích cho chúng sanh, muốn học theo bổn hạnh của các Đức Phật, muốn hiển hiện bổn hạnh của các Đức Phật, và muốn khiến tất cả chúng sanh lìa tất cả khổ, được vui rốt ráo.
Kinh Hoa Nghiêm

Người trí tu hạnh bố thí chẳng vì mong trả ơn, chẳng vì cầu được việc, chẳng vì hộ kẻ xan tham, chẳng vì sanh các cõi trời hưởng vui, chẳng vì tiếng tốt lưu bố ra ngoài, chẳng vì sợ hãi nỗi khổ ba ác đạo, chẳng vì cầu việc chi hết, chẳng vì hơn người, chẳng vì mất của, chẳng vì có nhiều, chẳng vì chẳng dùng, chẳng vì tục lệ của gia truyền, chẳng vì đề gần gũi.
Người trí tu bố thí: Vì lòng thương xót, vì muốn khiến kẻ kia được an vui, vì muốn họ cũng sanh lòng bố thí, vì muốn cùng các bậc thánh nhơn mà tu đạo, vì muốn phá hoại phiền não và vì muốn vào cõi Niết bàn đoạn hữu vậy.
Người không của tự nói không có của là không thiệt. Tại sao? Là người ai lại không có được một chén nước, một cọng cỏ? Những kẻ nghèo xơ, sau một bữa ăn, đem nước rửa chén mà bố thí cũng vẫn được phước; hay là đem một hạt cơm thí cho con kiến cũng vẫn được phước báo vô lượng; dầu cho những người cực nghèo trong thiên hạ ai lại không có một hạt cơm, hay một miếng bánh bằng bột? Những người cực nghèo tuy không có áo mặc, nhưng đâu phải họ thiệt ở truồng, nếu họ biết đem một sợi chỉ nơi áo quần bố thí cho người bị thương băng bó vết thương.
Nầy Thiện nam tử! Dầu cho những kẻ bần cùng trong thiên hạ đi nữa, đâu phải họ không có cái thân, nếu họ không có vật chỉ bố thí, thì mỗi khi thấy có kẻ khác tu bố thí, họ đem thân đến mà hiệp lực giúp đỡ với kẻ kia.
Nếu người không có Tâm bố thí thì dầu cho làm đến vị Quốc vương, cũng chưa chắc bố thí cho ai được chút gi!
Kinh Ưu Bà Tắc Giới.

Đời lắm kẻ ngu, giữ chặt lòng bủn xỉn, chẳng bố thí, chứa vàng của vạn ức, cho là vật sở hữu của ta. Đến khi chết, mắt thấy ác quỷ, đao-phong cắt thân, tuyệt hơi thở. Bây giờ tùy theo lòng tham nặng nhẹ, lãnh lấy quả báo đau khổ. Đến chỗ chịu khổ mới biết ăn năn, đâu còn kịp nữa!
Kinh Bồ-Tát Xử Thai

Nếu có người bần cùng, không của bố thí, khi thấy kẻ khác bố thí nên sanh tâm tùy hỉ; phước báu tùy hỉ, ngang với kẻ tu bố thí không khác. Ấy là việc rất dễ tu, ai tu chẳng đặng vậy.
Kinh Nhơn Quả

Nếu Bồ-tát tu thí, chỉ có lòng thương xót cũng được đầy đủ, huống là còn cho tài vật nữa. Nghĩa là Bồ-tát đem lòng từ bi nghĩ việc bố thí, tuy không có tài vật, khi thấy người đến xin chẳng nỡ nói: “Không có”, thương mà sa nước mắt. Bồ-tát có 3 trường hợp rơi nước mắt:
1) Khi thấy người tu công đức mà rơi lệ, vì lòng kính mến.
2) Khi thấy chúng sanh đau khổ bởi không công đức mà rơi lệ vì lòng thương xót.
3) Khi tự tu đại bố thí thương, vui nhảy nhót mà rơi lệ.

Bồ-tát tu bố thí xong chúng sanh no đủ liền vào núi, tu thiền định giúp trừ ba độc.
Kinh Luận-Đại-Trượng-Phu

Bảo với người xin rằng: “Ngươi nay thật làm nhơn công đức cho ta, vì khiến ta lìa lòng xan tham, đều nhớ nhơn duyên ngươi đến xin.”
Kinh Ưu bà tắc giới

Nếu thấy có người đến xin mà mặt mày nhăn nhó, thời phải biết người ấy họ đang mở cửa ngạ quỹ.
Kinh Bồ-Tát Bổn Hạnh

Xưa có người muốn sắp mở hội mời số khách đông để cúng dường sữa bò. Rồi tự nghĩ: “Nếu từ nay, cứ mỗi ngày nặng lấy sữa thì sữa sẽ nhiều không đồ chứa; mà chứa để lâu ngày sợ e sữa hư; chi bằng chứa luôn trong bụng bò, đến ngày khách đến sẽ nặng lấy một lần cho tiện. Thể rồi liền dắt bò con đem cột riêng xa bò mẹ. Qua thời gian một tháng, mới mời khách đến, đem bò ra nặng sữa, sữa đã khô mất hết, nặng không ra một giọt!
Người muốn đợi cho giàu to mới tu đại bố thí, chớ thường ngày chẳng chịu bố thí. Đến khi muốn thí thời của cải đã bị nước, lửa, giặc cướp đoạt mất hết chẳng còn một đồng mà thí! cũng như chứa sữa trong bụng bò.
Kinh Bách Dụ

Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng: Thí cho nhằm thì có 5 việc :
1) Thí cho kẻ từ xa đi đến
2) Thí cho kẻ sắp đi xa
3) Thí cho người bịnh
4) Thí cho lúc đói kém
5) Mới được dưa, quả mới chín, hoặc cơm mới, phải trước cúng cho vị tinh tấn, trì giới, nhiên hậu mình mới dùng.

Đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo có 5 món thí được phước báu lớn:
1) Tạo lập vườn tược
2) Trồng cây bên đường
3) Tạo tác cầu cống
4) Đóng thuyền to
5) Vì người sẽ đến, xây cất nhà cửa chổ ở.
Kinh Tăng nhứt A-Hàm

Lòng thương thí một người, công đức lớn bằng đất; vì mình thí tất cả, được báo bằng hột cải. Cứu một người nguy nạn, hơn bố thí tất cả, các sao tuy có sáng, chẳng bằng sáng mặt trăng.
Luận Đại-Trượng-Phu

Thí kẻ bần cùng, sanh lòng thương xót; thí đấng phước điền, sanh lòng vui mến; thí bậc thân hữu sanh lòng tinh tấn.
Kinh Ưu bà tắc giới

Tu bố thí được phước; tu từ tâm không oán; làm điều thiện hết ác; bỏ dục không phiền não.
Kinh Trường A Hàm

Đức Phật đến trước cửa một nhà để khất thực, người vợ chủ nhà đem cơm để vào bình bát ngài, rồi làm lễ cúng.
Đức Phật dạy: Đem giống trồng một sanh mười, trồng mười sanh trăm, trồng trăm sanh ngàn, trồng ngàn sanh vạn, và trồng vạn sanh ức; được thấy đạo lý chắc chắn.
Người chồng không tin bảo: Cúng một bát cơm có đâu được phước nhiều như thế?
Đức Phật liền chỉ: Người có thấy cái Đại Thọ Ni Câu Đà kia không ? Nó cao lớn thịnh mậu đến 45 dặm. Cứ mỗi năm trái nó sinh ra chừng vài vạn hộc, hột nó nhỏ như hột cải, mà đất nó có biết đâu được sức kết quả nhiều như thế? Nhưng là đất, chớ người là thuộc loại hữu tình; do tâm vui mừng đem một bát cơm dâng lên Phật, được phước rất lớn, không thể kể xiết.

Bấy giờ tâm ý đôi vợ chồng được tỏ ngộ liền chứng đạo quả Tu-đà-hoàn.
Kinh Tạp Thí Dụ

Thường vui tu trí huệ, mà chẳng tu bố thí, đời sau được thông minh, nghèo túng không của cải; chỉ vui tu bố thí, mà chẳng tu trí huệ, đời sau được giàu to, ngu ám chẳng biết gì; thí, huệ đều song tu, đời sau giàu, trí đủ; hai món đều chẳng tu, nhiều kiếp bị nghèo, ngu !
Kinh Phân Biệt Nghiệp-Báo

Nếu người lòng tham nhiều lắm, đối với đất bùn xem nặng hơn vàng ngọc; trái lại kẻ nhiều bi tâm, tuy bố thí vàng ngọc, coi nhẹ hơn cỏ cây. Nếu người lòng bủn xỉn làm nhiều, rủi mất của cải, lòng rất sầu khổ. Nếu kẻ bố thí khiến người lãnh thọ vui mừng, tự mình cũng mừng. Phỏng có đồ ăn ngon, nếu chẳng đem bố thí mà để tự ăn, thời cũng chẳng cho là đồ ăn ngon; hay có đồ ăn dỡ mà đem bố thí rồi mới chịu ăn, trong lòng vui sướng cho là đồ rất ngon. Hoặc bố thí rồi còn dư tự ăn, ấy là bậc đại trượng-phu, tâm sanh vui mừng như chứng được Niết Bàn. Những kẻ không có lòng tin, họ đâu tin nổi những lời nói trên.

Người không có lòng tin, dầu có đồ ăn dỡ mà có kẻ đói đang đứng xin trước mặt, họ vẫn chẳng thí, huống là những vật tốt đẹp khác dâu dễ cho ai.

Như có hai người: Một giàu to, một nghèo cùng. Nay có người hành khất đến xin, cả hai người đều ôm lòng buồn lo: Kẻ giàu, lo sợ nó xin của; người nghèo lo tự bảo: Ta làm sao có được ít của vật gì cho họ. Hai người như vậy, tậm trạng lo khổ tuy đồng, mà được quả báo khác nhau, người nghèo vì lòng thương lo nghĩ, được sanh về cõi trời, hưởng sự giàu vui vô tận; còn kẻ xan tham đọa vào ngạ-quỉ, chịu khổ cũng khó hết.
Luận Đại-Trượng-Phu

Nếu bức bách gia tộc lấy của làm bố thí, người ấy chẳng được quả báo lớn. Trước chẳng hay cúng dường cha mẹ, mà lại làm khổ não vợ con, giả danh làm bố thí, thì chẳng được gọi là nghĩa khí. Tu bố thí như vậy, vì thiếu lòng thương xót nên gọi là: Chẳng biết trả ơn.
Kinh Ưu Bà Tắc Giới

Nếu vì muốn sanh Thiên mà tu thí, hoặc cầu tiếng khen; hoặc mong trả báo, hoặc vì sợ hãi mà tu bố thí thì được quả báo chẳng được thanh tịnh.
Kinh Phân Biệt Nghiệp-Báo

Trước nghĩ muốn cho nhiều, khi cho lại cho ít.
Lựa những vật xấu đem cho người, vật tốt để lại mình
Đã cho xong, tâm sanh hối tiếc. Ba việc như vậy là bất-tịnh-thí

Lại có 8 việc thí xong mà chẳng thành tựu quả báo tốt:
1) Thí rồi tìm thấy lỗi của kẻ thọ.
2) Khi thí tâm chẳng bình đẳng
3) Thí rồi có ý lợi dụng kẻ thọ
4) Thí rồi vui sướng tự khen ngợi lấy
5) Chỉ nói suông chứ chẳng cho gì cả
6) Cho rồi ác khẩu mắng chửi
7) Cho rồi, cầu trả lại gấp đôi
8) Cho rồi sanh lòng nghi.
Kẻ thí chủ như vậy, không thể gần gủi và gặp gỡ các Đức Phật và các bậc Hiền Thánh
Kinh Ưu Bà Tắc Giới

Lại có 5 món chẳng nên đem thí cho người.
1) Phi lý cầu của, chẳng nên thí, vì của bất tịnh
2) Rượu và vật độc chẳng nên thí, vì loạn chúng sanh
3) Lưới giăng, cạm bẩy chẳng nên thí, vì hại chúng sanh
4) Dao, cung tên chẳng nên thí, vì giết chúng sanh
5) Đồ âm nhạc và nữ-sắc chẳng nến thí vì hoại tịnh tâm
Kinh Bảo-Tích

Nước Xá-Vệ có cô gái nghèo tên Nan-Đà, thân thế cô độc sanh sống bằng lối đi xin. Bấy giờ cô thấy các vị vua chúa, quan Đại thần, trưởng-giả v.v… cúng dường Phật và chư Tăng, cô tự nghĩ: Ta mắc tội báo gì mà sanh vào nhà bần tiện thế nầy nên không thể cúng dường đấng Phước Điền. Cô tự hối trách lấy mình qua một ngày nọ đi xin chỉ được một đồng tiền liền đến nhà bán dầu để mua. Người bán dầu hỏi: Mua một đồng số dầu rất ít dùng sao được, vì sao mua ít thế? Nàng tỏ bày nỗi niềm và tâm nguyện của mình. Sau khi nghe, người bán dầu thương tình mà bán cho số dầu gấp bội. Nan-Đà xiết nỗi vui mừng, đem thẳng đến tinh-xá kỳ-viên dâng cúng Đức Thế Tôn. Rồi nàng phát nguyện rằng: “Nay tôi xin đem một ngọn đèn mọn nầy cúng dường Đức Phật, nguyện nhờ công đức nầy đời sau tôi được trí huệ sáng suốt, và được trừ dứt ngu ám cho tất cả chúng sanh.” Phát nguyện xong, lễ Phật và lui về.

Quá nửa đêm, các ngọn đèn kia đều tự tắt hết, chỉ còn một ngọn đèn nầy không tắt; ngài Mục-Kiền-Liên ba lần tắt mà nó chẳng tắt. Đức Phật thấy bảo: Nầy Mục-Kiền-Liên, ngọn đèn đây do người tín-nữ đem tâm bồ đề mà cúng dường, dầu cho lấy nước bốn biển cả mà đổ lên nó vẫn chẳng tắt.
Kinh Hiền Ngu

còn tiếp