- Thứ 5 Tháng 2 17, 2011 9:40 am
Bấy giờ, Trừ Cái Chướng Bồ tát bạch Pháp sư rằng: "Cho tôi sáu chữ Ðại Minh Ðà-la-ni." Ngài Pháp sư chánh niệm suy nghĩ. Thoạt nhiên nơi hư không có tiếng rằng: Thánh giả hãy ban cho sáu chữ Ðại Minh vương. Pháp sư kia suy nghĩ: Là tiếng ấy từ đâu pháp ra? Ở trong hư không lại phát ra tiếng rằng: Thánh giả! Nay đây Bồ-tát gia hạnh chí cầu nên được minh ứng, cho sáu chữ Ðại Minh vương vậy.
Bấy giờ, ngài Pháp sư quán thấy trong hư không Liên Hoa Thủ, Liên Hoa Cát Tường, như ánh trăng thu, đầu đảnh búi tóc đội mão báu, tất cả trí thù diệu trang nghiêm, thấy thân tướng như vậy, pháp sư bảo Trừ Cái Chướng rằng: Thiện nam tử! Ngài Quán Tự Tại Đại Bồ-tát, khiến nên trao cho ông sáu chữ Ðại Minh Vương Ðà-la-ni, ông nên lắng nghe. Lúc ấy, Trừ Cái Chướng chấp tay nép thân cung kính nghe Lục Tự Ðại Minh Vương Ðà-la-ni rằng:
“ÚM MA NI BÁT MINH HỒNG”.
Khi trao cho Ðà-la-ni ấy, cõi đất thảy đều có sáu lần chấn động. Trừ Cái Chướng Bồ-tát khi ấy đắc được Tam ma địa, lại được vi diệu huệ Tam ma địa. Ðắc được Tam ma địa rồi, bấy giờ Trừ Cái Chướng Đại Bồ-tát lấy thất bảo đầy trong bốn đại bộ châu phụng hiến cúng dường Pháp sư.
Khi ấy, Pháp sư dạy rằng: Nay sự cúng dường chưa xứng đáng một chữ thì làm thế nào cúng dường sáu chữ Ðại Minh? Không thọ nhận đồ ông cúng. Thiện nam tử! Ông là Bồ-tát Thánh giả hay chẳng phải Thánh giả. Ngài Trừ Cái Chướng lại lấy các chơn châu anh lạc giá trị trăm ngàn cúng dường Pháp sư. Lúc ấy, Pháp sư nói: Thiện nam tử! Nên lắng nghe tôi nói, ông nên đem đồ cúng dường này mà dâng lên Ðức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác. Khi ấy, Trừ Cái Chướng Bồ-tát đầu mặt đảnh lễ nơi chân Pháp sư mà nói lên lòng mong cầu được đầy đủ rồi cáo từ ngài mà về.
Trở về nơi vườn rừng cây Kỳ-đà, về đến nơi đảnh lễ sát chân Ðức Phật. Bấy giờ đức Thế Tôn, Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác dạy rằng: "Thiện nam tử! Tôi biết ông đã được sở đắc."
- Ðúng như vậy thưa Thế Tôn!
Khi bấy giờ, tại nơi ấy có bảy mươi bảy trăm ức đức Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đều đến nhóm hội. Các đức Như Lai kia đồng nói Ðại Chuẩn Ðề Ðà-la-ni rằng: “Nẵng Mồ Táp Bát Ða Nẫm, Tam Miệu Ngật Tam Một Ðà Câu Trí Nẫm, Ðát Nễ Dã Tha: Úm - Tả Lệ Tổ Lệ Tôn Nễ Ta Phạ Hạ.”
Khi bảy mươi bảy trăm ức Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác nói Ðà-la-ni này thì Ngài Quán Tự Tại Bồ-tát nơi thân có một lỗ chân lông gọi là Nhật Quang Minh, trong ấy có vô số trăm ngàn vạn Câu-chi-na khố đa Bồ-tát. Trong lông Nhật Quang Minh kia có một vạn hai ngàn núi vàng, mỗi một núi ấy có một ngàn hai trăm chót cao, chung quanh núi ấy có hoa sen báu trang nghiêm, chung quanh có vườn cây, có như ý ma ni báu cõi trời, có các ao tắm cõi trời, có vô số trăm ngàn vạn lầu các trang nghiêm bằng vàng báu, trên treo trăm ngàn y phục, chơn châu, anh lạc. Trong lầu các kia có châu báu như ý mầu nhiệm, cung cấp cho các Đại Bồ-tát, tất cả đồ cần dùng đầy đủ. Bấy giờ các Bồ-tát vào trong lầu các mà niệm sáu chữ Ðại Minh, lúc ấy thấy được địa vị Niết-bàn. Ðến địa vị Niết-bàn rồi thấy được Như Lai, thấy Ngài Quán Tự Tại Đại Bồ-tát, lòng sanh vui mừng khi các Bồ-tát ra khỏi lầu các rồi lại về chỗ kinh hành, trong đó có các vườn báu, lại về đến ao tắm, rồi đến núi báu Liên Hoa sắc, ở tại một chỗ ngồi kiết già mà nhập vào Ðại định, như thế đó thiện nam tử! Các Bồ-tát an trụ trong lỗ chân lông kia như vậy.
Thiện nam tử! Lại có lỗ chân lông gọi là Ðế Thích Vương, trong số đó có vô số trăm ngàn vạn Câu-chi-na khố đa bất thoái chuyển Bồ-tát. Nơi trong lông Ðế Thích Vương ấy có tám vạn núi vàng báu cõi trời, trong núi ấy có châu ma ni báu như ý, gọi là Liên Hoa Quang, tùy tâm của các Bồ-tát ấy suy nghĩ những gì đều được thành tựu.
Khi Bồ-tát ở trong núi ấy, nếu nghĩ đến việc ăn uống thì liền được đầy đủ, không còn chịu khổ phiền não luân hồi, thường khi tư duy thì thân kia được tương hợp với sự tư duy.
Thiện nam tử! Lại có lỗ chân lông gọi là Ðại Dược nơi trong ấy có vô số trăm ngàn vạn Câu-chi-na khố đa Bồ-tát sơ phát tâm. Thiện nam tử! Nơi trong lỗ chân lông kia có chín vạn chín ngàn núi, trong núi ấy có hang Kim Cang báu, hang vàng báu, hang bạc báu, hang đế thanh báu, hang liên hoa sắc báu, hang sắc màu xanh lục báu, hang pha để ca sắc báu, núi vương đó có tám vạn chót cao, các thứ như ý ma ni và các diệu báu khác trang nghiêm trên đó. Trong chót núi có chúng Ngạn-đạt-phạ thường tấu các khúc âm nhạc êm dịu, các sơ phát tâm Bồ-tát kia suy nghĩ: không, vô tướng, vô ngã, sanh khổ, lão khổ, bịnh khổ, chết khổ, thương nhau xa lìa khổ, ghét nhau gặp gỡ khổ, đọa A-tỳ địa ngục khổ, đọa Hắc Thằng địa ngục các hữu tình khổ. Các hữu tình đoạ vào ngã quỹ thú khổ. Khi suy nghĩ như thế thì liền ngồi kiết già phu mà nhập vào Ðại định ở trong núi ấy.
Thiện nam tử! Lại có một lỗ chân lông gọi là Hội Họa Vương, trong đó có vô số trăm ngàn vạn Câu-chi-na khố đa những vị Duyên Giác, hiện ra hào quang hỏa diệm, nơi lỗ chân lông kia có trăm ngàn vạn núi vương, các núi vương ấy có bảy báu trang nghiêm. Còn có các thứ cây Kiếp Thọ cành lá bằng vàng bạc, vô số trăm báu cùng các thứ trang nghiêm, trên treo mão báu, vòng ngọc, các thứ y phục anh lạc, treo các linh báu, áo Kiều-thi-ca, có các linh báu bằng vàng bạc, tiếng khua âm vang lung linh mầu nhiệm, trong núi đầy đủ các thứ cây Kiếp Thọ như thế, có vô số Duyên Giác an trụ trong đó, thường diễn nói Khế Kinh: Ứng tụng, Thọ ký, Phúng tụng, Thí dụ, Bổn sanh, Phương quảng, Hi pháp, Luận nghị, các pháp như thế.
Trừ Cái Chướng! Khi ấy các Duyên Giác ra khỏi lỗ chân lông kia, sau cùng có một lỗ chân lông gọi rằng: Phan Vương, rộng tám vạn du thiện na; ở trong đó có tám vạn núi, các báu mầu nhiệm và ma ni như ý trang nghiêm, trong núi vương kia có vô số cây Kiếp Thọ, có vô số trăm ngàn vạn cây chiên đàn hương tỏa ra mùi thơm ngọt ngào, có vô số trăm ngàn vạn cây Ðại Thọ. Lại còn có đất Kim Cang báu, có chín mươi chín lầu các, trên treo trăm ngàn vạn chơn châu vàng báu y phục, chuỗi ngọc anh lạc, ở trong lỗ chân lông ấy xuất hiện như thế. Trừ Cái Chướng! Vì ông mà tôi đã nói pháp xong.
Bấy giờ Phật bảo Ngài A-nan-đà: Nếu có người không biết nghiệp báo, ở trong tịnh xá làm khạc nhổ và đại tiểu tiện… Nay tôi vì ông mà nói: Nếu ở nơi đất thường trụ thanh tịnh ấy mà khạc nhổ thì người đó sanh ở trong cây Ta La, làm con trùng mỏ nhọn như cây kim trải qua hai mươi năm. Nếu ở đất thường trụ mà đại tiểu tiện thì người đó sanh làm con trùng dơ uế ở trong chỗ đại tiểu tiện nơi thành lớn Ba-la-nại. Nếu lén dùng riêng của thường trụ Tam Bảo vật chừng bằng cây tăm xỉa răng, đọa làm loài cá trạnh, cá kình, cá sấu. Nếu trộm lấy của thường trụ Tam Bảo những thứ như mè, dầu, gạo, đậu… đọa vào trong ba ngã quỷ, đầu tóc bờm xờm, lông mình đứng dựng, bụng to như núi, cổ nhỏ như kim, đốt cháy như rang khô, chỉ bày hài cốt, người đó chịu khổ báo như thế. Nếu khinh mạn chúng Tăng, người ấy sẽ đọa sanh vào trong nhà nghèo cùng bần tiện, sanh ra nơi nào các căn cũng không đầy đủ, lưng gù, lùn xấu, khi bỏ thân ấy rồi lại sanh chỗ khác, nhiều bịnh hoạn khô gầy tay chân cong quẹo, máu mủ tràn lan, da thịt nứt nẻ chảy nước, trải qua trăm ngàn vạn tuổi chịu khổ báo như thế. Nếu trộm lấn đất cát của thường trụ, đọa vào địa ngục rên la, ăn nuốt hòn sắt nóng, răng, môi rơi rụng và yết hầu cháy nát, tim, gan, ruột, bụng khắp mình hực cháy.
Khi ấy có vị Tỳ-kheo nói: Nghiệp phong kia thổi đến chết rồi lại sống, nơi ấy Diêm Ma ngục tốt ắt đầu tội nhơn, tự nghiệp cảm của người, sanh ra một lưỡi dài lớn, có trăm ngàn vạn lưỡi cày sắt cày lên lưỡi ấy, chịu khổ báo trải qua nhiều vạn năm, khi ra khỏi địa ngục ấy rồi, lại vào địa ngục vạc dầu sôi. Diêm Ma ngục tốt dắt đầu tội nhơn, lấy trăm ngàn vạn kim châm trên lưỡi, vì nghiệp lực nên vẫn không chết, như vậy lần lượt vào các địa ngục, trải qua ba kiếp. Người ấy trở lại làm thân người ở Nam Thiệm bộ châu, sanh vào nhà nghèo cùng khốn khổ, đôi mắt đui mù, phải chịu những khổ báo như thế, hãy dè dặt chớ trộm cắp tài vật của thường trụ Tam Bảo.
Nếu Tỳ-kheo trì giới, nên thọ trì ba y, khi vào vương cung mặc đệ nhất đại y, thường nhựt trong chúng nên mặc đệ nhị y, làm các công vụ hoặc vào làng xóm hoặc khi đi đường nên mặc đệ tam y. Các Tỳ-kheo nên thọ trì ba y như vậy. Nếu trì giới thì được công đức, được trí tuệ. Ta nói Tỳ-kheo nên trì giới luật, không được trộm dùng tài vật của thường trụ Tam Bảo. Như ở trong hầm lửa, ở chốn độc dược, những nơi như thế mà ta có thể cứu khỏi được, còn nếu trộm dùng tài vật của thường trụ thì không thể nào cứu vớt được.
Bấy giờ Ngài A-nan-đà bạch đức Thế Tôn rằng: Như lời Phật dạy chúng con sẽ thực hành tu học đầy đủ. Nếu Tỳ-kheo thọ trì giới luật, nên khéo an trụ giữ gìn giới pháp của đức Thế Tôn.
Bấy giờ Cù Thọ A-nan-đà đảnh lễ sát chân Ðức Phật, nhiễu quanh rồi lui ra. Khi ấy các vị đại Thanh văn cũng đều trở về chỗ cũ. Tất cả trong thế gian, Trời, Rồng, Dược-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Nghiệt-lỗ-noa, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, người cùng chẳng phải người, nghe Phật thuyết pháp rồi vui mừng tin thọ lễ Phật mà lui về.
Bấy giờ, ngài Pháp sư quán thấy trong hư không Liên Hoa Thủ, Liên Hoa Cát Tường, như ánh trăng thu, đầu đảnh búi tóc đội mão báu, tất cả trí thù diệu trang nghiêm, thấy thân tướng như vậy, pháp sư bảo Trừ Cái Chướng rằng: Thiện nam tử! Ngài Quán Tự Tại Đại Bồ-tát, khiến nên trao cho ông sáu chữ Ðại Minh Vương Ðà-la-ni, ông nên lắng nghe. Lúc ấy, Trừ Cái Chướng chấp tay nép thân cung kính nghe Lục Tự Ðại Minh Vương Ðà-la-ni rằng:
“ÚM MA NI BÁT MINH HỒNG”.
Khi trao cho Ðà-la-ni ấy, cõi đất thảy đều có sáu lần chấn động. Trừ Cái Chướng Bồ-tát khi ấy đắc được Tam ma địa, lại được vi diệu huệ Tam ma địa. Ðắc được Tam ma địa rồi, bấy giờ Trừ Cái Chướng Đại Bồ-tát lấy thất bảo đầy trong bốn đại bộ châu phụng hiến cúng dường Pháp sư.
Khi ấy, Pháp sư dạy rằng: Nay sự cúng dường chưa xứng đáng một chữ thì làm thế nào cúng dường sáu chữ Ðại Minh? Không thọ nhận đồ ông cúng. Thiện nam tử! Ông là Bồ-tát Thánh giả hay chẳng phải Thánh giả. Ngài Trừ Cái Chướng lại lấy các chơn châu anh lạc giá trị trăm ngàn cúng dường Pháp sư. Lúc ấy, Pháp sư nói: Thiện nam tử! Nên lắng nghe tôi nói, ông nên đem đồ cúng dường này mà dâng lên Ðức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác. Khi ấy, Trừ Cái Chướng Bồ-tát đầu mặt đảnh lễ nơi chân Pháp sư mà nói lên lòng mong cầu được đầy đủ rồi cáo từ ngài mà về.
Trở về nơi vườn rừng cây Kỳ-đà, về đến nơi đảnh lễ sát chân Ðức Phật. Bấy giờ đức Thế Tôn, Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác dạy rằng: "Thiện nam tử! Tôi biết ông đã được sở đắc."
- Ðúng như vậy thưa Thế Tôn!
Khi bấy giờ, tại nơi ấy có bảy mươi bảy trăm ức đức Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác đều đến nhóm hội. Các đức Như Lai kia đồng nói Ðại Chuẩn Ðề Ðà-la-ni rằng: “Nẵng Mồ Táp Bát Ða Nẫm, Tam Miệu Ngật Tam Một Ðà Câu Trí Nẫm, Ðát Nễ Dã Tha: Úm - Tả Lệ Tổ Lệ Tôn Nễ Ta Phạ Hạ.”
Khi bảy mươi bảy trăm ức Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác nói Ðà-la-ni này thì Ngài Quán Tự Tại Bồ-tát nơi thân có một lỗ chân lông gọi là Nhật Quang Minh, trong ấy có vô số trăm ngàn vạn Câu-chi-na khố đa Bồ-tát. Trong lông Nhật Quang Minh kia có một vạn hai ngàn núi vàng, mỗi một núi ấy có một ngàn hai trăm chót cao, chung quanh núi ấy có hoa sen báu trang nghiêm, chung quanh có vườn cây, có như ý ma ni báu cõi trời, có các ao tắm cõi trời, có vô số trăm ngàn vạn lầu các trang nghiêm bằng vàng báu, trên treo trăm ngàn y phục, chơn châu, anh lạc. Trong lầu các kia có châu báu như ý mầu nhiệm, cung cấp cho các Đại Bồ-tát, tất cả đồ cần dùng đầy đủ. Bấy giờ các Bồ-tát vào trong lầu các mà niệm sáu chữ Ðại Minh, lúc ấy thấy được địa vị Niết-bàn. Ðến địa vị Niết-bàn rồi thấy được Như Lai, thấy Ngài Quán Tự Tại Đại Bồ-tát, lòng sanh vui mừng khi các Bồ-tát ra khỏi lầu các rồi lại về chỗ kinh hành, trong đó có các vườn báu, lại về đến ao tắm, rồi đến núi báu Liên Hoa sắc, ở tại một chỗ ngồi kiết già mà nhập vào Ðại định, như thế đó thiện nam tử! Các Bồ-tát an trụ trong lỗ chân lông kia như vậy.
Thiện nam tử! Lại có lỗ chân lông gọi là Ðế Thích Vương, trong số đó có vô số trăm ngàn vạn Câu-chi-na khố đa bất thoái chuyển Bồ-tát. Nơi trong lông Ðế Thích Vương ấy có tám vạn núi vàng báu cõi trời, trong núi ấy có châu ma ni báu như ý, gọi là Liên Hoa Quang, tùy tâm của các Bồ-tát ấy suy nghĩ những gì đều được thành tựu.
Khi Bồ-tát ở trong núi ấy, nếu nghĩ đến việc ăn uống thì liền được đầy đủ, không còn chịu khổ phiền não luân hồi, thường khi tư duy thì thân kia được tương hợp với sự tư duy.
Thiện nam tử! Lại có lỗ chân lông gọi là Ðại Dược nơi trong ấy có vô số trăm ngàn vạn Câu-chi-na khố đa Bồ-tát sơ phát tâm. Thiện nam tử! Nơi trong lỗ chân lông kia có chín vạn chín ngàn núi, trong núi ấy có hang Kim Cang báu, hang vàng báu, hang bạc báu, hang đế thanh báu, hang liên hoa sắc báu, hang sắc màu xanh lục báu, hang pha để ca sắc báu, núi vương đó có tám vạn chót cao, các thứ như ý ma ni và các diệu báu khác trang nghiêm trên đó. Trong chót núi có chúng Ngạn-đạt-phạ thường tấu các khúc âm nhạc êm dịu, các sơ phát tâm Bồ-tát kia suy nghĩ: không, vô tướng, vô ngã, sanh khổ, lão khổ, bịnh khổ, chết khổ, thương nhau xa lìa khổ, ghét nhau gặp gỡ khổ, đọa A-tỳ địa ngục khổ, đọa Hắc Thằng địa ngục các hữu tình khổ. Các hữu tình đoạ vào ngã quỹ thú khổ. Khi suy nghĩ như thế thì liền ngồi kiết già phu mà nhập vào Ðại định ở trong núi ấy.
Thiện nam tử! Lại có một lỗ chân lông gọi là Hội Họa Vương, trong đó có vô số trăm ngàn vạn Câu-chi-na khố đa những vị Duyên Giác, hiện ra hào quang hỏa diệm, nơi lỗ chân lông kia có trăm ngàn vạn núi vương, các núi vương ấy có bảy báu trang nghiêm. Còn có các thứ cây Kiếp Thọ cành lá bằng vàng bạc, vô số trăm báu cùng các thứ trang nghiêm, trên treo mão báu, vòng ngọc, các thứ y phục anh lạc, treo các linh báu, áo Kiều-thi-ca, có các linh báu bằng vàng bạc, tiếng khua âm vang lung linh mầu nhiệm, trong núi đầy đủ các thứ cây Kiếp Thọ như thế, có vô số Duyên Giác an trụ trong đó, thường diễn nói Khế Kinh: Ứng tụng, Thọ ký, Phúng tụng, Thí dụ, Bổn sanh, Phương quảng, Hi pháp, Luận nghị, các pháp như thế.
Trừ Cái Chướng! Khi ấy các Duyên Giác ra khỏi lỗ chân lông kia, sau cùng có một lỗ chân lông gọi rằng: Phan Vương, rộng tám vạn du thiện na; ở trong đó có tám vạn núi, các báu mầu nhiệm và ma ni như ý trang nghiêm, trong núi vương kia có vô số cây Kiếp Thọ, có vô số trăm ngàn vạn cây chiên đàn hương tỏa ra mùi thơm ngọt ngào, có vô số trăm ngàn vạn cây Ðại Thọ. Lại còn có đất Kim Cang báu, có chín mươi chín lầu các, trên treo trăm ngàn vạn chơn châu vàng báu y phục, chuỗi ngọc anh lạc, ở trong lỗ chân lông ấy xuất hiện như thế. Trừ Cái Chướng! Vì ông mà tôi đã nói pháp xong.
Bấy giờ Phật bảo Ngài A-nan-đà: Nếu có người không biết nghiệp báo, ở trong tịnh xá làm khạc nhổ và đại tiểu tiện… Nay tôi vì ông mà nói: Nếu ở nơi đất thường trụ thanh tịnh ấy mà khạc nhổ thì người đó sanh ở trong cây Ta La, làm con trùng mỏ nhọn như cây kim trải qua hai mươi năm. Nếu ở đất thường trụ mà đại tiểu tiện thì người đó sanh làm con trùng dơ uế ở trong chỗ đại tiểu tiện nơi thành lớn Ba-la-nại. Nếu lén dùng riêng của thường trụ Tam Bảo vật chừng bằng cây tăm xỉa răng, đọa làm loài cá trạnh, cá kình, cá sấu. Nếu trộm lấy của thường trụ Tam Bảo những thứ như mè, dầu, gạo, đậu… đọa vào trong ba ngã quỷ, đầu tóc bờm xờm, lông mình đứng dựng, bụng to như núi, cổ nhỏ như kim, đốt cháy như rang khô, chỉ bày hài cốt, người đó chịu khổ báo như thế. Nếu khinh mạn chúng Tăng, người ấy sẽ đọa sanh vào trong nhà nghèo cùng bần tiện, sanh ra nơi nào các căn cũng không đầy đủ, lưng gù, lùn xấu, khi bỏ thân ấy rồi lại sanh chỗ khác, nhiều bịnh hoạn khô gầy tay chân cong quẹo, máu mủ tràn lan, da thịt nứt nẻ chảy nước, trải qua trăm ngàn vạn tuổi chịu khổ báo như thế. Nếu trộm lấn đất cát của thường trụ, đọa vào địa ngục rên la, ăn nuốt hòn sắt nóng, răng, môi rơi rụng và yết hầu cháy nát, tim, gan, ruột, bụng khắp mình hực cháy.
Khi ấy có vị Tỳ-kheo nói: Nghiệp phong kia thổi đến chết rồi lại sống, nơi ấy Diêm Ma ngục tốt ắt đầu tội nhơn, tự nghiệp cảm của người, sanh ra một lưỡi dài lớn, có trăm ngàn vạn lưỡi cày sắt cày lên lưỡi ấy, chịu khổ báo trải qua nhiều vạn năm, khi ra khỏi địa ngục ấy rồi, lại vào địa ngục vạc dầu sôi. Diêm Ma ngục tốt dắt đầu tội nhơn, lấy trăm ngàn vạn kim châm trên lưỡi, vì nghiệp lực nên vẫn không chết, như vậy lần lượt vào các địa ngục, trải qua ba kiếp. Người ấy trở lại làm thân người ở Nam Thiệm bộ châu, sanh vào nhà nghèo cùng khốn khổ, đôi mắt đui mù, phải chịu những khổ báo như thế, hãy dè dặt chớ trộm cắp tài vật của thường trụ Tam Bảo.
Nếu Tỳ-kheo trì giới, nên thọ trì ba y, khi vào vương cung mặc đệ nhất đại y, thường nhựt trong chúng nên mặc đệ nhị y, làm các công vụ hoặc vào làng xóm hoặc khi đi đường nên mặc đệ tam y. Các Tỳ-kheo nên thọ trì ba y như vậy. Nếu trì giới thì được công đức, được trí tuệ. Ta nói Tỳ-kheo nên trì giới luật, không được trộm dùng tài vật của thường trụ Tam Bảo. Như ở trong hầm lửa, ở chốn độc dược, những nơi như thế mà ta có thể cứu khỏi được, còn nếu trộm dùng tài vật của thường trụ thì không thể nào cứu vớt được.
Bấy giờ Ngài A-nan-đà bạch đức Thế Tôn rằng: Như lời Phật dạy chúng con sẽ thực hành tu học đầy đủ. Nếu Tỳ-kheo thọ trì giới luật, nên khéo an trụ giữ gìn giới pháp của đức Thế Tôn.
Bấy giờ Cù Thọ A-nan-đà đảnh lễ sát chân Ðức Phật, nhiễu quanh rồi lui ra. Khi ấy các vị đại Thanh văn cũng đều trở về chỗ cũ. Tất cả trong thế gian, Trời, Rồng, Dược-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Nghiệt-lỗ-noa, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, người cùng chẳng phải người, nghe Phật thuyết pháp rồi vui mừng tin thọ lễ Phật mà lui về.
PHẬT NÓI KINH ĐẠI THỪA TRANG NGHIÊM BẢO VƯƠNG
(Trọn Bộ)
HẾT
(Trọn Bộ)
HẾT